Từ sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (5/1941), cách mạng Việt Nam bước vào giai đoạn chuẩn bị trực tiếp cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Trong bối cảnh đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục xác định Cao Bằng không chỉ là nơi khởi nguồn của cách mạng mà còn là trung tâm chiến lược để xây dựng lực lượng, huấn luyện cán bộ, mở rộng căn cứ địa và chỉ đạo phong trào cách mạng cả nước

Xây dựng Hội Cứu quốc và hệ thống tổ chức Việt Minh tại Cao Bằng

Sau Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 tại Pác Bó, đường lối cách mạng mới được xác định rõ ràng: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và tiến tới khởi nghĩa vũ trang. Một trong những nội dung cốt lõi của chuẩn bị Tổng khởi nghĩa là xây dựng lực lượng chính trị rộng khắp, thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, việc xây dựng lực lượng chính trị quần chúng thông qua Mặt trận Việt Minh được xác định là nhiệm vụ trung tâm, có ý nghĩa quyết định đối với thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám. Người nhấn mạnh yêu cầu cấp bách phải giác ngộ, tổ chức và tập hợp quần chúng rộng rãi vào Mặt trận Việt Minh, thông qua hệ thống các đoàn thể cứu quốc. Cao Bằng được lựa chọn làm địa bàn thí điểm cho cuộc vận động xây dựng các Hội Cứu quốc, phù hợp với điều kiện thực tiễn và truyền thống cách mạng của địa phương.

Đến năm 1942, hầu hết các châu trong tỉnh Cao Bằng đều có tổ chức cứu quốc, trong đó Hòa An, Hà Quảng và Nguyên Bình trở thành ba châu “hoàn toàn Việt Minh”, tạo nên thế và lực chính trị vững chắc ở vùng căn cứ. Trên cơ sở đó, Ủy ban Việt Minh tỉnh Cao Bằng và Ủy ban Việt Minh lâm thời Liên tỉnh Cao – Bắc – Lạng được thành lập, từng bước hình thành hệ thống lãnh đạo thống nhất của Mặt trận ở Việt Bắc.

Hoạt động của Hội Cứu quốc không chỉ là biểu hiện chính trị, mà còn là không gian tổ chức quần chúng đông đảo tham gia Việt Minh. Các tổ chức này chủ trương tuyên truyền, vận động người dân đoàn kết, giác ngộ chính trị, đấu tranh chống áp bức và chuẩn bị cơ sở chính trị để cùng với lực lượng vũ trang thực hiện khởi nghĩa.

Phong trào Hội Cứu quốc và tổ chức Việt Minh ở Cao Bằng còn có tác dụng lan tỏa ra các tỉnh Việt Bắc khác. Với một mạng lưới chính trị vững chắc, Cao Bằng trở thành “thí điểm” để thực hiện những bước chuẩn bị quan trọng cho những kế hoạch lớn hơn của Trung ương, góp phần tạo nên thế trận chính trị rộng khắp cho Tổng khởi nghĩa sau này.

Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị Trung ương tháng 5/1941 tại Pác Bó (Tranh tư liệu lịch sử)

Xây dựng các đội du kích, đội tự vệ và Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

Song song với xây dựng lực lượng chính trị, công tác xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân là bước chuẩn bị chiến lược không thể thiếu đối với quá trình dẫn tới Tổng khởi nghĩa.

Từ đầu năm 1942, dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo của Trung ương Đảng và Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Cao Bằng đã mở nhiều lớp huấn luyện quân sự nhằm đào tạo cán bộ và tạo nền tảng xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Các khóa học này diễn ra tại nhiều địa phương trong tỉnh: tại Khuổi Nặm, Pác Bó (Hà Quảng), Nguyên Bình và Hà Quảng. Sau khi học tập, các học viên trở về địa phương để huấn luyện, tổ chức các đội tự vệ và các lực lượng bảo vệ cách mạng, góp phần tích cực vào việc hình thành lực lượng vũ trang cấp tỉnh.

Đến đầu năm 1943, hầu hết các xã, tổng thuộc các châu như Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình đều đã có đội tự vệ, lớp huấn luyện quân sự và các hoạt động diễn tập, sẵn sàng tham gia đấu tranh khi cần thiết. Nhân dân còn tự mua sắm vũ khí ủng hộ lực lượng vũ trang, cho thấy sự đồng lòng, quyết tâm trong phong trào chuẩn bị khởi nghĩa.

Bước sang năm 1944, Chiến tranh thế giới thứ Hai đang dần đi vào hồi kết, thời cơ thuận lợi cho dân tộc Việt Nam vùng lên giải phóng dân tộc đang đến rất gần, Bác Hồ đã nhận định đúng tình hình, sáng suốt đề ra chủ trương thành lập “một đội quân chủ lực” để làm nhiệm vụ xung kích, đi đầu trên con đường cách mạng Việt Nam.

Thực hiện chỉ dẫn của Bác Hồ, đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng đồng chí Lê Quảng Ba họp bàn, khẩn trương xây dựng đội vũ trang theo đúng yêu cầu của Người. Về tên gọi của đội, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã cùng với các đồng chí chủ trì thống nhất lấy tên là “Ðội Việt Nam Giải phóng quân”. Sau khi báo cáo, lãnh tụ Hồ Chí Minh thêm hai từ “tuyên truyền” vào tên Đội và duyệt danh sách cán bộ, đội viên của Đội. Trong Chỉ thị thành lập Đội, Người chỉ rõ: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền” [1].

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo, (xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình cũ), đồng chí Võ Nguyên Giáp được Đảng và Bác Hồ ủy nhiệm tuyên bố Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân.

Để thực hiện đúng và thực hiện bằng được theo lời căn dặn của Bác: Trong một tháng sau khi thành lập, phải có hoạt động, trận đầu nhất định phải thắng. Ngay trong hai ngày đầu hoạt động, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã ghi dấu ấn quan trọng khi lập chiến công vang dội đánh tiêu diệt hai đồn địch Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu truyền thống “đánh thắng trận đầu” của quân đội nhân dân Việt Nam. Những hoạt động đó dù mới là bước đầu nhưng đã thể hiện sự phối hợp tuyệt vời của nghệ thuật chiến tranh nhân dân, trong đó vai trò tham gia của quần chúng là hết sức quan trọng. Những kết quả bước đầu này luôn gắn liền với dấu ấn của Hồ Chí Minh trên mảnh đất Cao Bằng.

Cùng với đội quân chủ lực, Cao Bằng còn phát triển lực lượng vũ trang địa phương và lực lượng tự vệ bán vũ trang ở các tổng, xã tạo nên một “lưới vũ trang” rộng khắp, góp phần không nhỏ vào khả năng quần chúng đứng lên hưởng ứng khi khởi nghĩa tổng lực được phát động.

Mít tinh giành chính quyền cách mạng tại Sóc Giang, Hà Quảng, Cao Bằng (Tranh tư liệu lịch sử)

Xây dựng Cao Bằng trở thành “đại bản doanh” của Việt Minh và cơ sở chiến lược cho khởi nghĩa

Trong giai đoạn chuẩn bị Tổng khởi nghĩa tháng Tám, không chỉ là xây dựng lực lượng chính trị và vũ trang, mà còn là thiết lập một không gian chiến lược để tập trung chỉ huy, lãnh đạo và liên lạc giữa các địa phương cách mạng khác. Tại Cao Bằng, căn cứ địa cách mạng đã được xây dựng và củng cố một cách toàn diện và chắc chắn.

Cao Bằng không chỉ có các vùng châu “hoàn toàn Việt Minh” mà còn là nơi duy trì nền tảng liên lạc với các vùng khác. Theo tư liệu, các khu vực như Pác Bó, Lam Sơn,…trở thành các địa bàn căn cứ, tạo nên một mạng lưới cơ sở vững chắc. Nhân dân các dân tộc bản địa tham gia hăng hái vào Việt Minh, các đội tự vệ, du kích và lực lượng vũ trang, góp phần hình thành một khu căn cứ liên hoàn rộng lớn, không chỉ ở cấp tỉnh mà kết nối với các tỉnh vùng Việt Bắc khác.

Trong thời gian này, Ban xung phong Nam tiến được thành lập và tổ chức các đội xung phong tuyên truyền quần chúng đi Nam tiến, mở rộng ảnh hưởng cách mạng đến các tỉnh khác của miền Bắc như Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Hà Giang, tạo điều kiện liên lạc với Trung ương Đảng ở miền xuôi. Việc xây dựng căn cứ địa Cao Bằng cũng gắn chặt với việc củng cố chính trị và quân sự: lực lượng chính trị được lấp đầy qua Việt Minh và các hội cứu quốc, lực lượng vũ trang được xây dựng từ nòng cốt đội chủ lực đến các đội địa phương và tự vệ; đồng thời cơ sở hậu cần, thông tin và liên lạc được mở rộng. Tất cả điều đó tạo nên một không gian cách mạng toàn diện, đủ mạnh để tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Trong thời gian từ năm 1942 đến tháng 5/1945, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cao Bằng đã trở thành trung tâm trọng yếu trong quá trình chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám. Tại đây, lực lượng chính trị quần chúng được xây dựng rộng khắp, các tổ chức cứu quốc và lực lượng vũ trang cách mạng từng bước hình thành, phát triển vững chắc. Hệ thống căn cứ địa cách mạng ở Cao Bằng và Việt Bắc không ngừng được mở rộng và củng cố.

Những quyết sách chiến lược của Đảng được triển khai kịp thời, phù hợp với thực tiễn, kết hợp chặt chẽ giữa ý Đảng và lòng dân. Thực tiễn ấy khẳng định vai trò đặc biệt của Cao Bằng trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đồng thời làm sâu sắc thêm dấu ấn lãnh đạo, tầm nhìn và tình cảm gắn bó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với mảnh đất cội nguồn cách mạng này.