Thiết kế năng lực tự chủ chiến lược
Thế giới đang bước vào chu kỳ biến động sâu sắc. Các trung tâm quyền lực tái cấu trúc, chuỗi cung ứng toàn cầu phân mảnh, xung đột cục bộ và bất ổn khu vực kéo dài. Những thách thức phi truyền thống như an ninh mạng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh, khủng hoảng năng lượng… không còn là nguy cơ xa xôi mà đã trở thành yếu tố hiện hữu tác động trực tiếp tới an ninh và phát triển của mỗi quốc gia.
Trong hoàn cảnh đó, “tự chủ chiến lược” không chỉ là một lựa chọn chính trị, mà là đòi hỏi sống còn của năng lực phát triển. Tự chủ chiến lược trước hết là tự chủ về tầm nhìn và đường lối, không bị động trước biến động, không lệ thuộc vào các ràng buộc bên ngoài. Nhưng quan trọng hơn, tự chủ chiến lược phải được chuyển hóa thành năng lực quốc gia cụ thể, đó là năng lực làm chủ công nghệ, dữ liệu, nguồn nhân lực, nền kinh tế, quản trị và thể chế, cũng như củng cố quốc phòng – an ninh trong điều kiện mới.

Quy trình sản xuất linh kiện điện tử. (Ảnh: Phạm Hậu/TTXVN)
Để hiện thực hóa năng lực đó, Việt Nam cần một cấu trúc chính sách đủ mạnh và đồng bộ. Và chính tại đây, nhóm nghị quyết chiến lược mới ban hành đóng vai trò như hệ thống “bệ phóng”, tạo động lực tăng tốc phát triển trong kỷ nguyên mới.
Có thể nhìn nhận nhóm 9 nghị quyết chiến lược như “cấu trúc phát triển quốc gia” trong giai đoạn mới, với trục vận động rõ ràng từ thể chế đến động lực, từ nguồn lực đến năng lực, từ hội nhập đến tự chủ.
Trước hết, Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia được xác định như động lực chủ đạo để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, phát triển kinh tế tri thức và nâng năng suất lao động. Trong kỷ nguyên số, quốc gia nào làm chủ công nghệ, dữ liệu và đổi mới sáng tạo sẽ chiếm lợi thế cạnh tranh dài hạn. Với Việt Nam, Nghị quyết 57 là lời khẳng định dứt khoát: tăng trưởng không thể dựa mãi vào chiều rộng, mà phải dựa vào tri thức và công nghệ.
Kế đó, Nghị quyết 68-NQ/TW, ngày 04/05/2025 về phát triển kinh tế tư nhân thể hiện bước nhấn quan trọng khi coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế, cần có cơ chế chính sách đột phá để khu vực này “cất cánh”. Trong bối cảnh hội nhập sâu, khu vực tư nhân chính là nơi tích tụ sức sáng tạo, khả năng thích ứng thị trường và tiềm lực cạnh tranh. Khơi dậy động lực tư nhân là khơi dậy sức dân, sức doanh nghiệp, sức đổi mới của xã hội.
Nghị quyết 71-NQ/TW, ngày 22/08/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo nâng tầm giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đặt con người ở vị trí trung tâm của cải cách. Không có nguồn nhân lực chất lượng cao thì không thể chuyển đổi mô hình tăng trưởng, không thể làm chủ công nghệ, không thể nâng năng suất. Đây là nghị quyết xác lập rõ tư duy “đầu tư cho con người là đầu tư cho tương lai quốc gia”.
Ở bình diện đối ngoại và không gian phát triển, Nghị quyết 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 về chủ động hội nhập quốc tế trong tình hình mới khẳng định quan điểm hội nhập là phương thức mở rộng không gian phát triển và nâng vị thế quốc gia. Hội nhập ở đây không chỉ là mở cửa thị trường, mà là chủ động tham gia và định vị trong chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng, chuỗi đổi mới toàn cầu.
Cùng với đó, Nghị quyết 70-NQ/TW, ngày 20/08/2025 về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đóng vai trò “trụ đỡ chiến lược”. Không có an ninh năng lượng thì không thể phát triển bền vững, không thể công nghiệp hóa hiện đại hóa, càng không thể duy trì tốc độ tăng trưởng dài hạn. Trong thế giới đầy rủi ro năng lượng, nghị quyết này giúp Việt Nam chủ động hơn trong bảo đảm nguồn cung và chuyển dịch năng lượng.
Nghị quyết 72-NQ/TW, ngày 09/09/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân cho thấy tư duy phát triển hiện đại và nhân văn. Sức khỏe không chỉ là phúc lợi xã hội mà còn là nguồn lực phát triển, là nền tảng chất lượng nhân lực, là thước đo tiến bộ công bằng và là yếu tố quan trọng của ổn định xã hội.
Nghị quyết 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước xác lập rõ một thông điệp chiến lược: kinh tế nhà nước phải tiếp tục giữ vai trò chủ đạo ở những lĩnh vực then chốt, làm “trụ đỡ” ổn định vĩ mô và lá chắn bảo đảm an ninh kinh tế quốc gia. Điểm nhấn của nghị quyết không nằm ở khẩu hiệu, mà ở yêu cầu tái cấu trúc thực chất: nâng hiệu quả doanh nghiệp nhà nước bằng quản trị hiện đại, minh bạch, tuân thủ kỷ luật thị trường, kiên quyết loại bỏ thất thoát và lợi ích nhóm. Đồng thời, nguồn lực được dồn trọng điểm vào hạ tầng và các ngành nền tảng như năng lượng, logistics, tài chính, công nghiệp chiến lược nhằm tạo lực kéo tăng trưởng và năng lực dẫn dắt phát triển trong giai đoạn mới.
Cấu trúc phát triển quốc gia thời kỳ mới
Trong tổng thể các nghị quyết chiến lược, nếu các nghị quyết về khoa học công nghệ, hội nhập, kinh tế tư nhân, năng lượng, giáo dục, sức khỏe… là những “đầu tàu” mở ra động lực mới, thì Nghị quyết 66-NQ/TW ngày 30/04/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu càu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới chính là “trái tim thể chế” quyết định khả năng chuyển hóa chủ trương thành kết quả. Bởi điểm nghẽn dai dẳng không phải thiếu quyết sách đúng, mà là thể chế và thực thi bị “kẹt” trong thủ tục, dẫn tới đúng quy trình nhưng chậm hiệu quả, thiếu cơ chế khuyến khích đổi mới và thiếu trách nhiệm giải trình. Nghị quyết 66 vì thế chuyển trọng tâm từ ban hành sang tổ chức thực thi, từ quản lý sang kiến tạo, từ thủ tục hóa sang hiệu quả hóa, tạo hành lang pháp lý thông thoáng và tăng kỷ cương minh bạch.
Đặc biệt, Nghị quyết 80-NQ/TW được Bộ Chính trị ban hành ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam giữ vai trò nền tảng, “ánh sáng soi đường”, bởi văn hóa là nguồn lực nội sinh, hệ điều tiết xã hội và sức đề kháng trước lệch chuẩn trong môi trường số, giúp củng cố tự chủ chiến lược từ gốc rễ.
Nhìn tổng thể, hệ thống các nghị quyết chiến lược đã tạo nên một cấu trúc liên kết thống nhất gồm mục tiêu công cụ chỉ tiêu nguồn lực. Khi các nghị quyết được triển khai đồng bộ, Việt Nam sẽ có đủ ba điều kiện để bứt phá: thể chế thông thoáng và hiệu quả, động lực công nghệ và đổi mới sáng tạo, nguồn lực xã hội được khơi thông và con người được nâng tầm.
Đại hội XIV vì vậy cần được nhìn như điểm hội tụ để “kết tinh” tư duy và “tăng tốc” hành động. Điều xã hội kỳ vọng là năng lực tổ chức thực thi quyết liệt, đo được kết quả, rõ trách nhiệm, tránh hình thức và né tránh. Khi quyết tâm chính trị chuyển hóa thành sản phẩm chính sách và thành quả phát triển, đất nước có cơ sở vững chắc để vươn mình mạnh mẽ trong giai đoạn mới./.
