Dân chủ là khát vọng sâu xa, cũng là thành tựu của cuộc đấu tranh lâu dài của các dân tộc và của loài người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho Đảng, đất nước ta di sản tư tưởng quý báu với nhiều nội dung cốt lõi và sinh động, trong đó có vấn đề dân chủ
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Năm 1949, trong bài “Dân vận” đăng trên báo Sự thật, Người viết:
“NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ
Bao nhiêu lợi ích đều vì dân.
Bao nhiêu quyền hạn đều của dân.
Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân.
Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân.
Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra.
Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên.
Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”[1].
Người từng khẳng định “Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân”[2]. Trong quan điểm của Người, Nhân dân là chủ thể của quyền lực. Dân chủ có nghĩa là dân làm chủ hay “Nhân dân là ông chủ”[3].
Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức coi trọng thể chế dân chủ đại diện. Nhân dân thành lập lên nhà nước để tổ chức, hoạt động quản lý chuyên nghiệp phục vụ cho Nhân dân, xã hội và vì sự phát triển của xã hội. Người nói “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ”[4]. “Lá phiếu cử tri có một giá trị rất cao quý; nó là một dấu hiệu xác nhận rằng nhân dân thực sự làm chủ nước nhà”[5], do đó, Người khẳng định: “Tổng tuyển cử tức là tự do, bình đẳng; tức là dân chủ, đoàn kết”, “Do Tổng tuyển cử mà toàn dân bầu ra Quốc hội. Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ, Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân”[6]; “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”[7]. “Chính phủ cộng hòa dân chủ là gì? Là đầy tớ trung thành của dân, từ Chủ tịch toàn quốc đến làng. Dân là chủ thì Chính phủ phải là đầy tớ. Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân có quyền đuổi Chính phủ”[8].

Bác Hồ với nhân dân Thanh Hóa (Ảnh tư liệu)
Ngày 03/9/1945, tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, một trong những công việc khẩn cấp mà Hồ Chí Minh đề nghị Chính phủ phải tập trung giải quyết là vấn đề bầu cử Quốc hội. Người nói: “Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu”[9].
Ngày 08/9/1945, một tuần sau khi giành độc lập, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 14-SL về việc mở cuộc tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội. Ngày 17/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh ấn định thể lệ cuộc tổng tuyển cử toàn quốc. Những sắc lệnh này là cơ sở pháp lý đầu tiên hình thành chế độ dân chủ đại diện ở nước ta.
Ngày 09/11/1946, Hiến pháp 1946 được Quốc hội khoá I thông qua, chính thức quy định chế độ bầu cử phổ thông, tự do, trực tiếp và kín.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là người đặt nền móng cho hình thức dân chủ trực tiếp. Hiến pháp năm 1946 do Người chủ trì soạn thảo đã quy định “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia …”, những điều thay đổi trong Hiến pháp khi đã được Nghị viện phê chuẩn thì phải đưa ra toàn dân phúc quyết. Cho đến nay, Hiến pháp đầu tiên của nước ta vẫn là hiến pháp duy nhất quy định về thủ tục toàn dân phúc quyết hiến pháp.
Ở khía cạnh nội dung của quyền làm chủ, Hồ Chí Minh nhất quán coi trọng việc bảo đảm thực hiện và phát huy các quyền tự do, dân chủ của công dân. Ngoài quyền bầu cử, ứng cử được thực hiện tự do theo các luật đã ban hành, các quyền tự do, dân chủ cơ bản khác cũng đã được thể chế hóa và có cơ chế bảo đảm thực hiện.
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, quyền dân chủ cơ bản nhất, bên cạnh quyền bầu cử, có lẽ là quyền tự do ngôn luận và tự do hội họp. Người từng nói một cách giản dị “Dân chủ tức là làm cho dân được mở miệng ra”, “Khai hội, phê bình và bày tỏ ý kiến, bầu cử các uỷ ban, các hội đồng, v.v..; đó là những cách quần chúng kiểm soát những người lãnh đạo”[10].
Ngay trong những năm đầu thực hiện dân chủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành các thể chế quy định về biểu tình (Sắc lệnh số 31, ngày 13/9/1945), chế độ báo chí (Sắc lệnh số 41, ngày 29/3/1946), ấn loát phẩm (Sắc lệnh số 52, ngày 22/4/1946). Ngày 20/5/1957, Người ban hành Sắc lệnh số 100-SL/L003 quy định chế độ báo chí; Sắc lệnh số 101-SL/L002 quy định về quyền tự do hội họp.
Ở góc độ phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, bên cạnh chủ thể toàn thể nhân dân có quyền phúc quyết và chủ thể cá nhân có các quyền tự do dân chủ, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng vai trò của các tổ chức quần chúng trong thực hành dân chủ. Trong Thư gửi đồng bào Liên khu IV vào giữa năm 1950, Người viết “Nước ta là một nước dân chủ, mọi công việc đều vì lợi ích của dân mà làm. Khắp nơi có đoàn thể nhân dân như Hội đồng nhân dân, Mặt trận, Công đoàn, Hội Nông dân cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, ... Những đoàn thể đó là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bệnh vực quyền của dân, liên lạc mật thiết với Nhân dân, với Chính phủ. Khi ai có gì oan ức, thì có thể do các đoàn thể tố cáo lên cấp trên. Đó là quyền dân chủ của tất cả công dân Việt Nam, đồng bào cần hiểu và khéo dùng quyền ấy”.[11]
Do đó, từ năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh quy định về quyền lập công đoàn (Sắc lệnh số 29-SL, ngày 12/3/1947); năm 1957, Người ban hành sắc lệnh quy định quyền lập hội như Sắc lệnh số 102-SL/L004, ngày 20/5/1957). Sắc lệnh số 102 là cơ sở pháp lý cho ra đời hàng loạt hội của nhân dân trong thời gian sau đó.

Bác Hồ với đại biểu tham dự Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng (Ảnh tư liệu)
Đảng thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Tháng 12/1986, Đại hội VI của Đảng quyết định đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội xác định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”[12]. Do đó, quan niệm về dân chủ đã gắn liền với tư tưởng “dân là chủ”, “dân làm chủ”, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa gắn liền với xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) ra Chỉ thị số 30/CT-TW về việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Đây là sự bổ sung quan trọng quan điểm về các hình thức thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Đại hội IX của Đảng (năm 2001), tổng kết 15 năm đổi mới, Đảng đã đưa “dân chủ” vào hệ mục tiêu của cách mạng nước ta: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiếp tục có những phát triển mới trong nhận thức về dân chủ: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân”[13].
Đại hội XI của Đảng (năm 2011), trong Cương lĩnh bổ sung và phát triển, Đảng ta đã đưa cụm từ dân chủ lên trước cụm từ công bằng, văn minh trong hệ mục tiêu và cũng là đặc trưng bản chất bao trùm của xã hội xã hội chủ nghĩa với mục tiêu xây dựng đất nước: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”[14]. Luận điểm này thể hiện điểm mới trong nhận thức của Đảng về mục tiêu dân chủ, đó là: Đảng ngày càng chú trọng vị trí của dân chủ trong hệ mục tiêu đổi mới đất nước;dân chủ trở thành bản chất của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước.
Đại hội XII (năm 2016), phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa được Đảng khẳng định là một trong những thành tố hợp thành chủ đề Đại hội và cũng là thành tố trong tiêu đề của Báo cáo chính trị.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục ghi nhận, phát triển, làm giàu thêm quan điểm lý luận và thực tiễn về dân chủ và Nhà nước pháp quyền. Đại hội xác định một trong các mục tiêu cụ thể phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030 là “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.”[15]
Trên cơ sở đó, Đại hội XIII xác định nhiệm vụ: “Tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện ngày càng tốt hơn quyền làm chủ của nhân dân trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của các tổ chức và công dân, kiên quyết xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu ở nhiều cấp uỷ đảng, chính quyền đã tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân”[16].
Dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc” của các nhiệm kỳ Đại hội trước, khẳng định: “Xây dựng, hoàn thiện cơ chế, chính sách để thực hiện có hiệu quả quyền làm chủ của Nhân dân, thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng ”[17]. Đồng thời “Phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Có cơ chế phù hợp, thuận lợi và tin cậy để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước... Thực hiện đầy đủ các quyền dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, nhất là dân chủ ở cơ sở”[18].
Thực tiễn cách mạng Việt Nam gần 40 năm đổi mới và hơn nửa thế kỷ làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho thấy “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn”[19]. Thực hành dân chủ tạo tiền đề, điều kiện để tiến tới một xã hội công bằng, văn minh. Nhận thức về vị trí của dân chủ ở cơ sở trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ngày càng được khẳng định rõ ràng, sâu sắc và toàn diện, phản ánh những bước tiến quan trọng cả về lý luận và thực tiễn của Đảng. Dân chủ ở cơ sở là nền tảng của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ phải bắt đầu từ cơ sở, từ đời sống hằng ngày của người dân; dân chủ ở cơ sở chính là hình thức trực tiếp, gần gũi và hiệu quả nhất để nhân dân thực hiện quyền làm chủ. Khi quyền lực nhà nước được nhân dân giám sát từ cơ sở, đó là biểu hiện sống động của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, dân chủ ở cơ sở đã trở thành nội dung chính trị - pháp lý quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước. Đảng và Nhà nước tiếp tục ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr 232.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr 453.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.8, tr 263-264.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr 263.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr 565.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 153.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr 75.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr 60.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 7.
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr. 328.
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.6, tr 397.
[12] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 47, tr.710.
[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.125.
[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.70.
[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 118.
[16] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 71.
[17] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.38.
[18] Đảng Cộng sản Việt Nam: Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb, Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2025, tr.39.
[19] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.14, tr 325.
