Trà lời:

         Sự phát triển của khoa học công nghệ đòi hỏi Việt Nam phải có một cuộc cách mạng toàn diện để điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới cho phát triển. Những đặc trưng bản chất của xã hội mới - xã hội chủ nghĩa tiếp tục được định hình rõ nét hơn. Nhận diện và làm rõ những đặc trưng này góp phần làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới và định hướng chiến lược phát triển đất nước, xác lập vị thế mới của Việt Nam trên trường quốc tế.

         1. Lực lượng sản xuất hiện đại dựa trên tri thức và công nghệ

         Một là, người lao động từng bước làm chủ công nghệ

         Trong kinh tế tri thức, nguồn lực phát triển quan trọng nhất là tri thức, nhân lực có năng lực sáng tạo và thích ứng công nghệ cao. Mục tiêu phát triển kinh tế số, xã hội số của Đảng ta trong những năm tiếp theo sẽ thúc đẩy nâng cao năng lực số trong kết hợp các yếu tố sản xuất của người lao động. Sự phát triển của khoa học - công nghệ làm thay đổi cách thức kết hợp giữa người lao động với công cụ và đối tượng lao động. Sự kết nối đó được thực hiện thông qua mang Internet vạn vật (IoT). Do đó, người lao động Việt Nam muốn tồn tại được trong ngành, nghề của họ thì tất yếu phải có tri thức về khoa học - công nghệ, biến tri thức đó trở là lợi thế và nâng cao hiệu quả lao động của mình.

         Hai là, công cụ lao động được “thông minh hoá”

         Trí tuệ của con người đã được vật chất hoá vào công cụ lao động. Sự tích hợp giữa trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và công nghệ lõi (bán dẫn, công nghệ sinh học) tạo ra một cuộc cách mạng về năng suất lao động xã hội. Kết quả là, năng suất lao động tăng theo cấp số nhân của hàm lượng tri thức tích hợp vào công nghệ. Đây là nền tảng để giải quyết triệt để bài toán về hiệu quả, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế, để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và đạt được mục tiêu tăng trưởng 2 con số.

         Ba là, “dữ liệu số” đã trở thành đối tượng lao động.

         Ở Việt Nam,  “dữ liệu số” trở thành nguồn tài nguyên chiến lược, “nguồn lực mới” và một ngành kinh tế - “kinh tế dữ liệu”. Dữ liệu đã trở thành “hạ tầng của hạ tầng”, chi phối toàn bộ quá trình vận hành của nền kinh tế - xã hội. Khi mọi hoạt động từ quản lý nhà nước, sản xuất kinh doanh đến đời sống xã hội đều được số hóa, thì đối tượng mà con người trực tiếp tác động, xử lý và khai thác chính là dữ liệu số. Sự hình thành và phát triển của công nghiệp dữ liệu mở ra thị trường rộng lớn cho các doanh nghiệp công nghệ. Sự phát triển này mang tính bản chất vì tri thức và dữ liệu là loại tài nguyên không bị cạn kiệt, trái lại càng sử dụng càng sản sinh ra giá trị mới

         2. Quan hệ sản xuất tiến bộ bảo đảm công bằng xã hội

         Một là, đa dạng hóa hình thức sở hữu trên nền tảng sở hữu toàn dân.

         Trong giai đoạn mới,  “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm các cân đối lớn, định hướng chiến lược, dẫn dắt nền kinh tế”,  cơ cấu kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực chủ yếu của tăng trưởng, dữ liệu đang nổi lên như một nguồn lực chiến lược mới của quốc gia. Theo đó các hình thức sở hữu mới cũng được hình thành như: sở hữu dữ liệu, sở hữu nền tảng số, tài sản số, sở hữu các thuật toán.

         Hai là, quan hệ tổ chức, quản lý được số hoá

         Với 3 trụ cột trong chuyển đổi số, Việt Nam sẽ tạo ra quan hệ quản lý không còn mệnh lệnh hành chính mà đã được hiện đại hoá, chuyển dịch sang quản trị số kiến tạo. Nhà nước không còn can thiệp trực tiếp vào các hoạt động sản xuất kinh doanh mà tập trung vào việc xây dựng khung pháp luật, tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng và minh bạch. Quan hệ quản lý lúc này tập trung vào việc “quản trị bằng mục tiêu” và “quản trị bằng pháp luật”.

         Ba là, quan hệ phân phối hiện đại, linh hoạt, bình đẳng

         Quan hệ phân phối tại Việt Nam đã trở thành công cụ chiến lược để khơi dậy khát vọng cống hiến và đảm bảo sự phát triển bền vững. Bên cạnh đó, quan hệ phân phối ngày càng gắn chặt với yêu cầu bảo đảm công bằng xã hội, “Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu”. Phân phối trong giai đoạn mới còn là phân phối cơ hội phát triển. Đó là điều kiện quan trọng để  “không để ai bị bỏ lại phía sau”, mọi người dân đều được hưởng thành quả của sự phát triển.

         3. Kiến trúc thượng tầng vững mạnh, tinh gọn, lấy sự lãnh đạo của Đảng làm hạt nhân

         Một là, hệ thống chính trị tinh gọn, phương thức lãnh đạo của Đảng khoa học, hiện đại và hiệu quả

         Việc sắp xếp, tổ chức lại bộ máy theo hướng tinh giản biên chế, rõ chức năng, rõ trách nhiệm, vận hành trên nền tảng số là điều kiện tất yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, giải phóng nguồn lực cho Việt Nam bứt phá trong kỷ nguyên mới. Yếu tố mang tính bản chất và xuyên suốt của kiến trúc thượng tầng Việt Nam chính là vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội XIV không còn dừng lại ở định hướng chiến lược thuần túy mà gắn liền với đó là chương trình hành động thực hiện các mục tiêu chiến lược của toàn Đảng; mọi nhiệm vụ đều gắn liền với nội dung, trách nhiệm, mốc thời gian và nguồn lực bảo đảm cụ thể.

         Hai là, hệ thống pháp luật, thể chế trở thành hành lang cho phát triển, kiến tạo

         Trong  kỷ nguyên phát triển, pháp luật Việt Nam mở đường và kiến tạo phát triển, “Chuyển đổi tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển”. Pháp luật và thể chế đang trở thành “hạ tầng mềm” của nền kinh tế số. Các lĩnh vực như dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, giao dịch điện tử… đều đòi hỏi khung pháp lý mới, bảo đảm cho các hoạt động số diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững. Đại hội XIV của Đảng xác định: “Tập trung ưu tiên xây dựng đồng bộ thể chế phát triển, trọng tâm là hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới sáng tạo”.

         Ba là, văn hóa là sức mạnh nội sinh cho phát triển

        Khi các yếu tố về vật chất không còn là lợi thế tuyệt đối thì văn hoá trở thành nguồn lực nội sinh có thể chuyển hoá trực tiếp thành sức mạnh phát triển đất nước. Văn hóa không chỉ là “di sản”, mà còn là “nguồn lực sống”, được kích hoạt trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong điều kiện chuyển đổi số, văn hóa đang trở thành một yếu tố quan trọng của “hạ tầng mềm” cho phát triển. Văn hóa số, đạo đức số, lối sống số, quân nhân số… không chỉ là những biểu hiện mới của văn hóa, mà còn là điều kiện để bảo đảm cho quá trình chuyển đổi số diễn ra hiệu quả và bền vững.

         Những đặc trưng bản chất của xã hội mới trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam là sự hội tụ giữa tính kế thừa lịch sử và sự đột phá tầm vóc thời đại. Sự thống nhất biện chứng giữa ba đặc trưng không chỉ tạo nên nội lực mạnh mẽ để dân tộc vươn mình, mà còn khẳng định bản sắc một Việt Nam tự chủ, tự cường và thịnh vượng vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao, xây dựng thành công xã hội chủ nghĩa mà Đại hội XIV đã xác định./.