Sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết vào ngày 27/01/1973, một Định ước quốc tế về Việt Nam (Agreement of the international conference on Vietnam) được ký kết bởi 12 quốc gia vào ngày 02/3/1973. Việc ký kết định ước này nhằm bảo đảm việc thi hành nghiêm chỉnh Hiệp định Paris và tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Về cơ bản, định ước này là một sự xác nhận và bảo đảm của cộng đồng quốc tế đối với những nội dung đã được các bên ký kết trong Hiệp định Paris

Các bên tham gia và lý do ký kết

Định ước này được ký bởi 12 nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng hòa, Liên Xô, Trung Quốc, Pháp (với tư cách là nước đăng cai Hiệp định Paris), Vương quốc Anh và Ireland, Hungary, Indonesia, Ba Lan và Canada.

Lý do chính để các quốc gia này cùng nhau ký kết định ước là để tăng cường tính pháp lý và sự ràng buộc quốc tế cho Hiệp định Paris. Khi có nhiều quốc gia tham gia bảo đảm, việc thực thi Hiệp định sẽ trở nên khả thi hơn và giảm thiểu nguy cơ bị phá vỡ. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh lịch sử phức tạp và sự thiếu tin tưởng lẫn nhau giữa các bên tham chiến.

Định ước ghi rõ mục đích ký Định ước là “ghi nhận các Hiệp định đã ký kết; bảo đảm chấm dứt chiến tranh, giữ vững hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam và quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam; góp phần vào hòa bình và bảo đảm hòa bình ở Đông Dương”.

Định ước được ký kết với sự chứng kiến của Tổng Thư ký Liên hiệp quốc, lúc đó là ông Kurt Waldheim, người Áo.

Toàn cảnh lế ký kết Định ước của Hội nghị quốc tế về Viêt Nam tại Paris (Ảnh tư liệu) 

Nội dung chính của Định ước

Định ước quốc tế về Việt Nam bao gồm 9 điều khoản với các nội dung cốt lõi sau:

Các bên tham gia cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đây là các quyền cơ bản này của một quốc gia.

Các bên tái khẳng định cam kết chấm dứt mọi hành động thù địch và thực thi hòa bình.

Các bên cam kết tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản đã được quy định trong Hiệp định Paris.

Các bên đồng ý vai trò giám sát và kiểm soát của Ủy ban Liên hiệp quân sự bốn bên và Ủy ban Quốc tế trong việc thực thi Hiệp định.

Khi xảy ra sự vi phạm hiệp định, các bên có tham gia ký kết Hiệp định có thể báo cáo các quốc gia tham gia ký Định ước này để thảo luận phương hướng giải quyết.

Điều 4 Định ước nêu rõ: “Các bên ký kết Định ước này trịnh trọng công nhận và triệt để tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam cũng như quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam. Các bên ký kết định ước này triệt để tôn trọng Hiệp định và các Nghị định thư bằng cách không có bất cứ hành động nào trái với các điều khoản của Hiệp định và các Nghị định thư”.

Rõ ràng, Định ước là một thêm một lần”lạt mềm buộc chặt” trách nhiệm quốc tế của Hoa Kỳ trong việc thi hành Hiệp định Paris. Nếu như với Hiệp định Paris, Hoa Kỳ là một bên ký kết thì với Định ước này, trách nhiệm của Hoa Kỳ bị ràng buộc hơn rất nhiều, nhất là việc đưa quân đội trở lại Việt Nam, ném bom trở lại miền Bắc Việt Nam hoặc các hành động quân sự hỗ trợ Việt Nam Cộng hòa. Chính vì thế, trong mùa Xuân năm 1975, khi các đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, trước đề nghị của chính quyền Sài Gòn, Hoa Kỳ đã không đáp ứng yêu cầu sử dụng không quân để ngăn cản cuộc tiến công của quân giải phóng.

Các quốc gia tham gia ký kết cũng cho rằng, vấn đề hòa bình của Việt Nam không tách rời hòa bình của các quốc gia còn lại trên bán đảo Đông Dương. Điều 8 của Định ước nêu rõ: “Để góp phần vào hòa bình và bảo đảm hòa bình ở Đông Dương, các bên ký kết Định ước này ghi nhận lời cam kết của các bên ký kết Hiệp định tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, và nền trung lập của Cam-pu-chia và của Lào”.

Thực tế cho thấy, Định ước quốc tế về Việt Nam, mặc dù không ngăn chặn được hoàn toàn các vi phạm sau này, nhưng đã tạo ra một khuôn khổ pháp lý quốc tế vững chắc hơn cho việc thực thi Hiệp định Paris. Nó cho thấy sự quan tâm và cam kết của cộng đồng quốc tế đối với việc lập lại hòa bình tại Việt Nam, đồng thời là một bằng chứng về tầm quan trọng của Hiệp định Paris trong lịch sử quan hệ quốc tế. Lúc này, giải quyết vấn đề hòa bình ở Việt Nam là trọng tâm các vấn đề quốc tế của Liên hiệp quốc.

Ảnh chụp ở chi nhánh Ủy ban Quốc tế Kiểm soát và Giám sát (ICCS) tại tỉnh Phan Thiết. Thành viên người Indonesia đeo kính, 3 người còn lại đến từ Canada, Ba Lan và Hungary (Ảnh tư liệu) 

Vai trò của Ủy ban Quốc tế Kiểm sát và Giám sát thi hành Hiệp định Paris

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, Ủy ban Quốc tế giám sát, còn được gọi là Ủy ban Quốc tế kiểm soát và giám sát (ICCS - International Commission of Control and Supervision) được thành lập, đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm thực thi Hiệp định Paris về Việt Nam.

ICCS được thành lập theo Hiệp định Paris 1973 với nhiệm vụ chính là kiểm soát và giám sát việc thực thi các điều khoản của Hiệp định, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến ngừng bắn và trao trả tù binh.

ICCS sẽ có mặt tại các điểm nóng để quan sát và báo cáo về việc tuân thủ lệnh ngừng bắn của các bên tham chiến. Họ là “con mắt” và “tiếng nói” của quốc tế về tình hình đình chiến tại Việt Nam.

Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ICCS là chứng kiến và giám sát quá trình trao trả tù binh giữa các bên, bảo đảm diễn ra theo đúng các thỏa thuận. Việc trao trả tù binh Mỹ chủ yếu diễn ra tại Hà Nội. Tổng cộng đã có gần 600 tù binh Mỹ được trao trả. Ngược lại, đã có khoảng 26.000 tù binh là bộ đội miền Bắc và gần 5.000 tù chính trị, Hiệp định gọi chung là nhân viên dân sự, được trao trả tại sông Thạch Hãn và Lộc Ninh.

Khi có báo cáo về vi phạm Hiệp định, ICCS có trách nhiệm tiến hành điều tra và đưa ra các báo cáo khách quan. Các báo cáo này đóng vai trò quan trọng trong việc làm rõ sự thật và giải quyết các căng thẳng có thể phát sinh. Trong các tình huống tranh chấp hoặc xung đột, các sĩ quan giám sát quốc tế đóng vai trò là nhân chứng khách quan, giúp giải quyết vấn đề và ngăn chặn leo thang căng thẳng. ICCS báo cáo về tình hình thực thi Hiệp định cho các bên tham chiến và cho cộng đồng quốc tế, góp phần duy trì sự minh bạch và trách nhiệm.

Hoạt động của Ủy ban Quốc tế Giám sát và kiểm sát thi hành Hiệp định Paris

ICCS bao gồm các sĩ quan đại diện từ bốn quốc gia đại diện cho các phe trên thế giới lúc đó: Ba Lan, Hungary (khối xã hội chủ nghĩa), Canada (khối tư bản chủ nghĩa) và Indonesia (Phong trào không liên kết) 

Mỗi phái đoàn trong ICCS có 290 người. Phái đoàn Canada hoạt động đến 31/7/1973 thì rút đi. Thay thế là phái đoàn của Iran, lúc này vẫn là quốc gia quân chủ thân phương Tây.

Các thành viên của ICCS đã làm việc với tinh thần cởi mở, thân thiện nhưng cũng rất nguyên tắc và chuyên nghiệp. Họ đã thực hiện nhiều chuyến bay và di chuyển đến các địa điểm khác nhau để thực hiện nhiệm vụ giám sát, đôi khi đối mặt với những tình huống nguy hiểm hoặc căng thẳng.

Đại tá Nguyễn Văn Lâm, sĩ quan liên lạc phái đoàn đại biểu quân sự Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thực thi nhiệm vụ trong ban liên hợp ở trại Davis cho biết: “Họ đến từ Hungary, Ba Lan, Canada, Indonesia để cùng giám sát việc thực thi Hiệp định Paris với tác phong rất cởi mở, thân thiện nhưng cũng rất nguyên tắc, chuyên nghiệp. Các đợt trao đổi tù binh hay Mỹ rút quân về nước đều được sự giám sát chặt chẽ của họ”.

Mặc dù ICCS có thể không ngăn chặn được hoàn toàn tất cả các vi phạm, vai trò của họ là không thể phủ nhận trong việc cung cấp một lớp giám sát quốc tế, giúp duy trì một mức độ trách nhiệm và minh bạch nhất định trong quá trình thực thi Hiệp định Paris. Sự hiện diện của họ là một lời nhắc nhở về cam kết quốc tế đối với hòa bình tại Việt Nam.