
Trụ sở Trung tâm Đổi mới Sáng tạo quốc gia tại Hòa Lạc, Hà Nội
(Nguồn: https://nic.gov.vn/)
Theo Báo cáo Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu (GII) 2025 của WIPO, lần đầu tiên Trung Quốc lọt top 10 thế giới, là nền kinh tế thu nhập trung bình duy nhất trong nhóm 20 nước dẫn đầu có chỉ số đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới. Trong khi đó, Ấn Độ đứng thứ 38, vượt 01 bậc so với năm 2024 và duy trì xu hướng cải thiện liên tục trong thập niên qua [1]. Thành tựu này phản ánh chiến lược phát triển dựa trên khoa học – công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp năng động và hiệu quả của hai quốc gia đông dân nhất thế giới.
Trung Quốc: Mô hình Nhà nước dẫn dắt

Nguồn: Tư liệu về chiến lược công nghiệp và hạ tầng số Trung Quốc (http://english.www.gov.cn)
Trung Quốc triển khai chiến lược “Made in China 2025”, tập trung vào công nghệ cao như AI, bán dẫn, 5G, xe điện và năng lượng tái tạo. Đầu tư cho R&D tăng mạnh, đặc biệt trong nghiên cứu cơ bản. Hệ thống quỹ đổi mới công nghệ quốc gia và địa phương hỗ trợ mạnh mẽ doanh nghiệp, kể cả giai đoạn khởi nghiệp. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), bắt đầu từ năm 2014 đến nay, Trung Quốc có hơn 38.200 bằng sáng chế AI, gấp 6 lần so với Mỹ, quốc gia ở vị trí thứ hai với gần 6.300 bằng sáng chế. Trong số những ứng viên nộp đơn đăng ký bằng sáng chế hàng đầu có ByteDance của Trung Quốc và gã khổng lồ thương mại điện tử Trung Quốc Alibaba Group. Các ứng dụng bằng sáng chế của Trung Quốc bao trùm nhiều lĩnh vực từ xe tự hành, xuất bản đến quản lý tài liệu [2]. Năm 2022, đầu tư của Trung Quốc vào nghiên cứu cơ bản đạt 202,35 tỷ Nhân dân tệ, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2021, đứng thứ hai thế giới, chiếm 6,57% tổng chi tiêu R&D của cả nước [3].
Các tập đoàn như Huawei, Alibaba Group hay Lenovo đều từng hưởng lợi từ chính sách hỗ trợ này. Trung Quốc cũng sở hữu nhiều trung tâm, cụm đổi mới hàng đầu thế giới như Thâm Quyến – Hồng Kông – Quảng Châu hay Bắc Kinh.
Điểm nổi bật là vai trò điều phối chiến lược của nhà nước: xác định lĩnh vực ưu tiên, đầu tư quy mô lớn, kết hợp giữa doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, tạo hệ sinh thái khép kín từ nghiên cứu đến thương mại hóa.
Ấn Độ: Đổi mới dựa vào khu vực tư nhân và thị trường
Khác với Trung Quốc, Ấn Độ phát triển đổi mới sáng tạo theo hướng “từ dưới lên”, dựa vào sức mạnh khu vực tư nhân và công nghệ thông tin. Chương trình Startup India thúc đẩy khởi nghiệp thông qua cải cách thủ tục, ưu đãi thuế và hỗ trợ tài chính. Năm 2022, Ấn Độ có hơn 84.000 doanh nghiệp khởi nghiệp (startup) được đăng ký chính thức, trở thành quốc gia có hệ sinh thái khởi nghiệp lớn thứ ba thế giới, chỉ sau Mỹ và Trung Quốc [4].
Các doanh nghiệp như Paytm, BYJU'S hay Zomato trở thành biểu tượng của làn sóng kỳ lân công nghệ. Ấn Độ nổi bật với mô hình “đổi mới tiết kiệm chi phí” (frugal innovation), phát triển giải pháp giá rẻ phục vụ nhóm dân cư thu nhập thấp, nhất là trong giáo dục, y tế và tài chính số.
Nếu Trung Quốc đặt trọng tâm vào sản xuất công nghệ cao và tự chủ chuỗi cung ứng, Ấn Độ tập trung vào dịch vụ phần mềm, fintech và gia công công nghệ toàn cầu.
So sánh hai mô hình: Tương đồng và khác biệt
Hai mô hình Trung Quốc và Ấn Độ có một số điểm tương đồng: 1) cả hai quốc gia đều coi đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng dài hạn và công cụ nâng cao vị thế quốc tế; 2) đều chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt trong STEM và công nghệ thông tin; 3) quy mô dân số lớn tạo ra thị trường nội địa đủ rộng để thử nghiệm và mở rộng sản phẩm đổi mới; 4) chính phủ hai nước đều có chương trình thúc đẩy hệ sinh thái khởi nghiệp, dù mức độ can thiệp khác nhau.
Tuy nhiên, hai mô hình có một số khác biệt:
Vai trò nhà nước: Trung Quốc can thiệp sâu và định hướng chiến lược; Ấn Độ thiên về tạo môi trường thuận lợi.
Trọng tâm công nghệ: Trung Quốc hướng đến công nghệ lõi, AI, bán dẫn; Ấn Độ mạnh về phần mềm, dịch vụ số.
Cách tiếp cận: Trung Quốc theo mô hình “định hướng – đầu tư – dẫn dắt”; Ấn Độ theo mô hình “thị trường – sáng tạo – linh hoạt”.
Thách thức: Trung Quốc đối mặt sức ép địa chính trị và kiểm soát công nghệ; Ấn Độ gặp hạn chế về hạ tầng và đầu tư R&D.
Hai mô hình phản ánh hai triết lý phát triển khác nhau nhưng đều chứng minh: đổi mới sáng tạo phải gắn với chiến lược quốc gia và lợi thế nội tại.
Hàm ý chính sách cho Việt Nam
Việt Nam đang chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng dựa vào tri thức và công nghệ. Từ kinh nghiệm Trung Quốc và Ấn Độ, có thể rút ra một số hàm ý:
Một là, xây dựng chiến lược ĐMST quốc gia có trọng tâm
Việt Nam cần xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên như chuyển đổi số, AI ứng dụng, năng lượng tái tạo, công nghệ sinh học nông nghiệp. Tránh dàn trải nguồn lực, tập trung đầu tư vào hạ tầng số và nghiên cứu cơ bản.
Hai là, phát huy vai trò kiến tạo của nhà nước
Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý minh bạch, tạo cơ chế sandbox cho mô hình mới, thành lập và vận hành hiệu quả các quỹ đổi mới sáng tạo, đồng thời khuyến khích hợp tác công – tư.
Ba là, tăng cường liên kết “nhà nước – doanh nghiệp – viện trường”
Đẩy mạnh thương mại hóa kết quả nghiên cứu; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư R&D; xây dựng các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia và địa phương gắn với nhu cầu thị trường.
Bốn là, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Cải cách giáo dục theo hướng tăng cường STEM, kỹ năng số và tư duy sáng tạo; thu hút chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài; tạo môi trường làm việc cạnh tranh quốc tế.
Năm là, khuyến khích đổi mới giải quyết vấn đề xã hội
Học hỏi mô hình Ấn Độ, Việt Nam cần thúc đẩy các giải pháp công nghệ phục vụ nông nghiệp, y tế cơ sở, giáo dục vùng sâu vùng xa – vừa có ý nghĩa xã hội, vừa tạo thị trường nội địa bền vững.
Đổi mới sáng tạo không chỉ là câu chuyện công nghệ mà là chiến lược phát triển quốc gia. Trung Quốc chứng minh sức mạnh của mô hình nhà nước dẫn dắt và đầu tư quy mô lớn; Ấn Độ cho thấy vai trò then chốt của khu vực tư nhân và thị trường linh hoạt. Đối với Việt Nam, chìa khóa nằm ở sự kết hợp hài hòa giữa vai trò định hướng của nhà nước và tính năng động của doanh nghiệp; giữa đầu tư công và huy động nguồn lực xã hội; giữa công nghệ cao và giải pháp thực tiễn. Nếu xây dựng được hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện, Việt Nam hoàn toàn có thể rút ngắn khoảng cách phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trong khu vực.
…………………………
Chú thích
- Cục Thông tin KH&CN Quốc gia (2025), Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025. Truy xuất từ: https://www.vista.gov.vn/vi/news/khoa-hoc-ky-thuat-va-cong-nghe/chi-so-doi-moi-sang-tao-toan-cau-gii-2025-viet-nam-giu-vung-vi-tri-44-139-11925.html (17/9/2025).
- Ngô Huyền (2024), “Trung Quốc có hơn 38.200 bằng sáng chế AI”, VnEconomy.
- Đoàn Triệu Long (2023), “Thúc đẩy đổi mới sáng tạo ở Trung Quốc và hàm ý chính sách cho Việt Nam”, Tạp chí Lãnh đạo và chính sách, Số 11.
- Smriti Irani (2022), “India has emerged as third-largest startup ecosystem in world”.
