Sau Đại hội VI, với kinh nghiệm và trí tuệ của mình, đồng chí Trường Chinh đã đóng góp nhiều công sức vào viêc soạn thảo các văn kiện Đại hội VII, trong đó có Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sau này thường gọi là Cương lĩnh 1991
Thực tế đã khẳng định, dù trong bất cứ vị trí và hoàn cảnh nào, đồng chí Trường Chinh luôn tỏ rõ là một nhà lãnh đạo tài tình, có sức sáng tạo, nhất là trong những bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.
Nhiều người sẽ đặt câu hỏi, mùa Thu năm 1988, đồng chí Trường Trinh từ trần, vậy đồng chí có đóng góp như thế nào với việc soạn thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội? Chúng ta cùng nhìn lại đóng góp của đồng chí Trường Chinh với việc soạn thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991).
Đồng chí Trường Chinh nhận thấy sự cần thiết phải có Cương lĩnh
Sau gần 30 năm kể từ Hội nghị Trung ương 10 (10/1956) đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng Bí thư vì sai lầm của cải cách ruộng đất, tháng 7/1986, đồng chí Trường Chinh được cử làm Tổng Bí thư, trên cương vị đó, ông bắt tay chuẩn bị những tư tưởng lớn của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.
Cuộc họp Bộ Chính trị từ ngày 25/8 đến 01/9/1986 đã đưa ra 3 quan điểm kinh tế cơ bản, đây là những định hướng lớn cho đường lối đổi mới của Đảng được Đại hội VI đề ra.
Đồng chí Trường Chinh thấy rằng, dù đề ra được đường lối đổi mới, song Đại hội VI vẫn chưa có đủ thời gian và điều kiện thực tiễn giải đáp được những câu hỏi đặt ra một cách cấp bách của đời sống kinh tế, xã hội nước ta. Đó là vấn đề thuộc tầm Cương lĩnh.
Vì vậy, bên cạnh việc xác định đường lối đổi mới toàn diện, Đại hội giao cho Ban Chấp hành Trung ương xúc tiến xây dựng Cương lĩnh cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội nêu rõ: “Sau Đại hội này… Đảng ta cần xúc tiến xây dựng một cương lĩnh hoàn chỉnh cho toàn bộ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ… Thảo ra một cương lĩnh cách mạng hoàn chỉnh và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là sự kiện chính trị có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sự chỉ đạo cách mạng trong một thời kỳ tương đối dài, đặt nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và xã hội”[1]. Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Bản cương lĩnh phải thể hiện trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân ta, và sẽ trình Đại hội lần thứ VII của Đảng”[2].

Đồng chí Trường Chinh tại Đại hội VI năm 1986 (Ảnh tư liệu)
Trưởng tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh
Thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ VI, ngày 14/3/1987, Bộ Chính trị đã ra Quyết định số 03/QĐ-TW thành lập Ban soạn thảo Cương lĩnh và Chiến lược kinh tế - xã hội. Ban gồm các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Phạm Hùng, Võ Chí Công, Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Cơ Thạch, Đào Duy Tùng, Lê Đức Anh, Tố Hữu, do đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh làm Trưởng ban[3], đồng chí Trường Chinh và đồng chí Phạm Văn Đồng làm Phó Trưởng ban.
Ban chia ra làm hai Tiểu ban. Tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng Tiểu ban; Tiểu ban soạn thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội do đồng chí Phạm Văn Đồng làm Trưởng Tiểu ban, đồng chí Tố Hữu làm Tổng thư ký.
Theo Quyết định này: Giữa năm 1988, sẽ trình Bộ Chính trị dự thảo Cương lĩnh và Chiến lược phát triển kinh tế xã hội[4].
Theo đề nghị của đồng chí Trường Chinh, Ban Bí thư quyết định thành lập Tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh, gồm các đồng chí Trường Chinh, Nguyễn Cơ Thạch, Đào Duy Tùng, Vũ Oanh, Trần Độ, Nguyễn Đức Bình, Lê Tài, Phạm Như Cương, Nguyễn Vịnh, Hoàng Tùng, Đặng Xuân Kỳ, do đồng chí Trường Chinh làm Trưởng Tiểu ban.
Đồng thời Ban Bí thư ban hành Quyết định 08-QĐ/TW thành lập tổ biên tập gồm các đồng chí: Hoàng Tùng, Phan Diễn, Trần Nhâm, Hà Nghiệp, Trần Đức Nguyên, Đào Nguyên Cát, Chế Viết Tấn, Nguyễn Đăng Quang, Hồng Giao, Nguyễn Thiện, Nguyễn Duy Quý, Đào Duy Cận, Nguyễn Thế Phần, Khổng Doãn Hợi, Đỗ Nguyễn Phương, Nguyễn Khoa Minh, Đậu Thế Biểu, Đào Xuân Sâm, Vũ Khoan, Hồng Chương, Đặng Vũ Khiêu, Phạm Xuân Nam, Lê Thi, Dương Phú Hiệp, thường trực tổ biên tập gồm các đồng chí Hoàng Tùng, Trần Nhâm, Hà Nghiệp, Trần Đức Nguyên, Đào Nguyên Cát, do đồng chí Hoàng Tùng làm Tổ trưởng và đồng chí Trần Nhâm làm Thư ký.
Triển khai xây dựng dự thảo Cương lĩnh
Từng chấp bút Luận cương cách mạng Việt Nam, được thông qua tại Đại hội lần thứ II của Đảng tháng 02/1951 , nay lại là người chỉ đạo Tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh và trực tiếp hướng dẫn tổ biên tập bắt tay vào công việc xây dựng dự thảo Cương lĩnh. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên bắt tay vào làm một việc quá sức mình, nên ai nấy đều nhận thấy lúng túng. Vấn đề được đặt ra là phải bắt đầu từ đâu và bắt đầu như thế nào?
Ngay sau khi được Bộ Chính trị phân công làm Trưởng Tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh, đồng chí luôn trăn trở suy nghĩ về công việc được Trung ương giao. Đồng chí đã nhấn mạnh: soạn thảo Cương lĩnh tức là lựa chọn con đường phải đi và xác định kiểu phát triển xã hội chậm hay là nhanh, theo đúng quy luật[5].
Mặc dù đất nước xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1954, trải qua các kỳ đại hội III, IV, V, song Đảng vẫn chưa có một quan niệm rõ về kiểu phát triển xã hội, lúng túng trong việc lựa chọn con đường và hình thức quá độ lên chủ nghĩa xã hội, từ điểm xuất phát thấp, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Thực tiễn 21 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, hơn 15 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước cho thấy nhận thức của Đảng về chủ nghĩa xã hội còn giản đơn, một chủ nghĩa xã hội triệt để xóa bỏ áp bức, xác lập ngay từ đầu chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Kết quả là, đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng.
Đường lối đổi mới toàn diện được đề ra tại Đại hội VI đã tạo nền cho đổi mới tư duy của Đảng. Đồng chí Trường Chinh xác định Cương lĩnh phải xác định rõ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội được xác định trên những nội dung cơ bản nào, những phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát cho cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Những ý tưởng soạn thảo Cương lĩnh của đồng chí Trường Chinh, thật sâu sắc.
Trong cuộc họp của tổ biên tập ngày 20/4/1987, đồng chí Trường Chinh phác ra một số việc cần làm ngay:
Một là, xác định cho được nội dung những vấn đề cần nghiên cứu. Đây là những vấn đề lý luận chung, làm cơ sở phương pháp luận cho việc xác định bố cục và nội dung của Cương lĩnh, không giải quyết những vấn đề chung thì khi đi vào nội dung cụ thể sẽ gặp khó khăn và sẽ vấp lại những vấn đề chung nếu không làm rõ.
Hai là, tổ chức báo cáo nội dung Cương lĩnh của các đảng anh em, đặc biệt là Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô qua các thời kỳ. Tổ chức một đoàn cán bộ do đồng chí Nguyễn Đức Bình và đồng chí Hoàng Tùng dẫn đầu sang nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng Cương lĩnh của Đảng bạn.
Ba là, cần tiến hành sinh hoạt khoa học của các nhóm chuyên đề, sau khi xác định nội dụng cần nghiên cứu. Tổ biên tập cần tập hợp nội dung thảo luận của các chuyên đề và hình thành một bản dự thảo đề cương. Bản dự thảo này chưa phải là bản dự thảo Cương lĩnh, nên có thể tung các vấn đề ra một lúc theo nội dung bản đề cương được xác định.
Bốn là, trên cơ sở của bản đề cương được dự thảo lần đầu, tổ biên tập cần tổ chức một đợt sinh hoạt khoa học đi sâu thảo luận kỹ nội dung các vấn đề được đề cập. Xác định bố cục sơ bộ của dự thảo Cương lĩnh và phân công các thành viên của tổ chấp bút lần thứ nhất.
Bốn vấn đề cần làm ngay do đồng chí Trường Chinh nêu ra được cuộc họp tổ biên tập hoàn toàn nhất trí[6].

Đại hội VII thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bản Cương lĩnh có đóng góp quan trọng của đồng chí Trường Chinh (Ảnh tư liệu)
Ngày 27/4/1987, Tiểu ban soạn thảo Cương lĩnh họp phiên đầu tiên, do Trường Chinh chủ trì. Ông trình bày rõ quan điểm của mình về vấn đề soạn thảo Cương lĩnh và phác họa ra những nội dung cần nghiên cứu. Ông cho rằng, Cương lĩnh có nhiệm vụ xác định mục tiêu và phương hướng phát triển xã hội trong một thời kỳ lịch sử nhất định – có thể gọi đó là thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Như thế, nội dung của Cương lĩnh rộng hơn Chiến lược kinh tế - xã hội, nó đề ra những luận điểm chính trị và lý luận cơ bản cho cả một thời kỳ quá độ, tức là xác định cơ sở tư tưởng cho việc xây dựng một chế độ xã hội mới.
Xuất phát từ quan niệm ấy, đồng chí cho rằng, để xây dựng được Cương lĩnh của thời kỳ quá độ, bước đầu tạm thời xác định những nội dung cần nghiên cứu, hình thành các nhóm đề tài và phân công một số đồng chí trong Tiểu ban phụ trách.
Đồng chí cũng nêu ra những việc cần làm ngay của tổ biên tập:
Trước hết, cuối tháng 5/1987. Tiểu ban cùng với tổ biên tập nghe báo cáo nội dung Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Liên Xô và một số đảng anh em khác. Việc này cần làm sớm, qua đó gợi mở cho ta suy nghĩ những vấn đề cần nghiên cứu để soạn thảo Cương lĩnh của ta.
Từ tháng 5 đến tháng 9/1987, tổ biên tập vừa theo dõi các sinh hoạt khoa học của các nhóm chuyên đề, vừa tiến hành hội nghị chuyên đề của tổ để trao đổi những nội dung cần đề cập; sau đó tạm thời phác thảo sơ bộ đề cương dự thảo Cương lĩnh để đưa ra Tiểu ban cho ý kiến lần thứ nhất. Đây là đề cương sơ bộ, vì chưa đủ căn cứ để xây dựng đề cương chi tiết, nhưng dù sao cũng là một bước rất quan trọng.
Đồng chí chủ trương, trên cơ sở dự thảo đề cương lần đầu ấy, cuối tháng 9/1987, Việt Namsẽ tổ chức một đoàn cán bộ sang Liên Xô trao đổi kinh nghiệm xây dựng Cương lĩnh của Đảng bạn. Bản dự thảo được chuẩn bị tốt ngay ở nhà sẽ là căn cứ để làm việc với các đồng chí Liên Xô.
Đầu tháng 11/1987, Tổ biên tập thảo luận và hình thành đề cương chi tiết để đưa ra Tiểu ban cho ý kiến lần thứ hai, và sau đó sẽ trình ra Bộ Chính trị lần đầu vào tháng 01/1988.
Đồng chí Trường Chinh cho rằng quá trình hình thành đề cương chi tiết và quá trình các nhóm đề tài triển khai công việc nghiên cứu là hai quá trình song song tiến hành, bổ sung cho nhau và không chờ đợi nhau. Những chỉ dẫn quan trọng và những gợi ý thiết thực của ông đã mở ra cho Tiểu ban và tổ biên tập một định hướng lớn rất bổ ích.
Như vậy, kể từ phiên họp đầu tiên ngày 27/4/1987 của Tiểu ban cho đến ngày 30/9/1988, ngày đồng chí Trường Chinh qua đời, Tiểu ban đã có năm phiên họp, thông qua bốn lần dự thảo Cương lĩnh do ông trực tiếp chỉ đạo hình thành. Cũng trong thời ghian gần một năm rưỡi ấy, Bộ Chính trị cũng đã có hai cuộc hội nghị quan trọng đề bàn về bố cục và nội dung của bản dự thảo. Cho đến bản dự thảo lần thứ tư, thì bố cục được xác định thành 6 chương như sau:
Chương Một: Thắng lợi vĩ đại và những bài học của cách mạng Việt Nam
Chương Hai: Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Chương Ba: Phát triển kinh tế - xã hội
Chương Bốn: Quốc phòng, an ninh và chính sách đối ngoại
Chương Năm: Hệ thống chính trị nước ta
Chương Sáu: Đảng Cộng sản Việt Nam trong sự nghiệp đổi mới và chỉnh đốn Đảng.
Về cách đánh giá thành tựu, sai lầm:
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, 6/1991, bản Cương lĩnh chính thức được thông qua, gồm có bốn phần:
Phần I: Quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm.
Phần II: Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Phần III: Những định hướng lớn về chính sách kinh tế, xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại.
Phần IV: Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng.
Như vậy, bố cục của hai bản gần giống nhau, chỉ khác nhau ở chỗ bố cục của bản chính thức được thu gọn lại trên cơ sở của bản dự thảo lần thứ tư – bản dự thảo được Trường Chinh trực tiếp chỉ đạo việc sửa đổi, bổ sung sau khi có ý kiến của Bộ Chính trị trong cuộc họp ngày 15/8/1988. Cho nên, những ý tưởng của bản dự thảo lần thứ tư vẫn là cơ sở quan điểm, là “cái sườn” cho bản Cương lĩnh chính thức, và sau này được Đại hội lần thứ VII thông qua chính là một quá trình “thêm da thêm thịt” cho “cái sườn” sẵn có đó. Điều này nói lên công lao to lớn và đóng góp đáng kể của Trường Chinh trong việc soạn thảo Cương lĩnh chính trị của Đảng mà ông thường gọi đó là Cương lĩnh mới và phát triển[7].
Có thể từ những ý tưởng quan trọng sau đây để đánh giá sự đóng góp của Trường Chinh đối với sự kiện có ý nghĩa lịch sử này. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đây là văn kiện kiện mang tầm chiến lược trong thời kỳ cách mạng mới.
Gần 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới là minh chứng khẳng định những định hướng xã hội xã hội chủ nghĩa và phương hướng xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn đất nước, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân; đồng thời, khẳng định chân lý: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[8].
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.47, tr.374-375.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.47, tr. 564.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.48, tr 39-40.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.48, tr 40.
[5] Trần Nhâm, Trường Chinh - một tư duy sáng tạo, một tài năng kiệt xuất, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, Hà Nội 2009, tr.757.
[6] Trần Nhâm: Trường Chinh - một tư duy sáng tạo, một tài năng kiệt xuất, Sđd, tr.750-751.
[7] GS. Trần Nhâm: Trường Chinh - một tư duy sáng tạo một tài năng kiệt xuất, Sđd, tr. 756.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb.Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.70.
