Một chỉnh thể thống nhất: Quốc phòng, an ninh và đối ngoại.
Trong “Toàn văn Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII”, Đảng xác định: “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”(1). Đây là lần đầu tiên, trong Văn kiện Đảng, Trung ương Đảng xác định “đối ngoại, hội nhập quốc tế” đặt ngang hàng với “quốc phòng, an ninh” và đều là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”. Điều này cho thấy nhận thức của Đảng về mối quan hệ biện chứng giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại, hội nhập quốc tế được hiện thực hóa và đưa lên tầm cao mới, có ý nghĩa quan trọng đối với việc xây dựng một khung chiến lược toàn diện hơn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đánh dấu sự đổi mới về tầm nhìn chiến lược của Đảng trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và cạnh tranh địa - chính trị, kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên gay gắt.
Cả 3 lĩnh vực này được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, có vai trò “trọng yếu” như nhau. Chủ trương này phản ánh sâu sắc tầm nhìn toàn diện của Đảng Cộng sản Việt Nam về sức mạnh tổng hợp bảo vệ đất nước trong bối cảnh mới. Quốc phòng, an ninh và đối ngoại là ba trụ cột của sức mạnh tổng hợp quốc gia, vừa là lá chắn bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ từ sớm, từ xa, vừa là nền tảng chiến lược bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước nhanh và bền vững.
Trụ cột quốc phòng đảm bảo xây dựng lòng tin chiến lược về quốc phòng và giảm thiểu nguy cơ xung đột quân sự, chiến tranh; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hòa bình để đất nước “vươn mình” phát triển; là cơ sở để Việt Nam giữ vững độc lập, tự chủ, uy tín và vị thế trong quan hệ quốc tế. Trụ cột an ninh bảo đảm giữ vững địa bàn chiến lược, trọng điểm đối với nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.
Trụ cột đối ngoại, hội nhập quốc tế, là công cụ “mềm” để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Nhiệm vụ đối ngoại, hội nhập quốc tế không còn là nhất thời, mà phải liên tục, theo dõi và chủ động điều phối chính sách theo từng diễn biến mới. Đối ngoại, hội nhập quốc tế phải trên cơ sở “Chủ động, tích cực đóng góp vào hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; tham gia chủ động, có trách nhiệm vào việc giải quyết các vấn đề chung của khu vực và quốc tế”(2).
Tính toàn diện, đồng bộ giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng chủ trương: quốc phòng, an ninh được “tăng cường” và đối ngoại, hội nhập quốc tế được “đẩy mạnh” cho thấy tính toàn diện và đồng bộ trong chủ trương của Đảng ở nhiệm kỳ mới.
Nền quốc phòng và an ninh toàn diện, gắn với thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân. Điều này đòi hỏi phải củng cố tiềm lực kinh tế, khoa học và công nghệ phục vụ quốc phòng, an ninh; xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, nhất là tại các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ngay từ khâu quy hoạch, kế hoạch; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây được coi là cách tiếp cận toàn diện, lấy dân làm gốc, huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Việt Nam xây dựng Quân đội và Công an theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao. Ngoài ra, tăng cường đóng góp của Việt Nam trong duy trì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới qua các hoạt động của Quân đội, Công an trước hết là hợp tác quốc phòng, an ninh để củng cố tin cậy, giảm thiểu bất đồng, xung đột; tích cực phối hợp trong các vấn đề an ninh quốc tế, khu vực; đồng thời tham gia cứu hộ, cứu nạn quốc tế, tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc...
Tăng cường quốc phòng, an ninh đảm bảo cho Việt Nam giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Quốc phòng, an ninh vững mạnh là cơ sở để Việt Nam kiên trì giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS 1982); đồng thời, không ngừng nâng cao năng lực trong công tác phòng, chống thách thức an ninh phi truyền thống.
Chủ trương “đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế” của Đảng đã đặt ra yêu cầu về xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại nhằm thực hiện hiệu quả hơn việc kết hợp và phát huy cao độ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, thu hút nguồn lực bên trong và tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển đất nước. Đảng cũng chủ trương “Triển khai đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại trên cả 3 trụ cột: Đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân thống nhất từ Trung ương đến địa phương”(3), “Đẩy mạnh ngoại giao toàn diện phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ…”(4). Chủ trương này đã nâng cao vai trò của Bộ Ngoại giao, các cơ quan làm công tác đối ngoại trong hệ thống chính trị, phối hợp kịp thời cùng với quốc phòng, an ninh nhằm chủ động khai thác cơ hội, chủ động ứng phó kịp thời, hiệu quả với các thách thức mới.
Báo cáo Chính trị xác định: trong bối cảnh thế giới đa cực, đa trung tâm, phân tuyến và đối đầu gay gắt, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế trở thành mặt trận thống nhất “chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột, tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc”(5), giúp Việt Nam mở rộng không gian phát triển, tranh thủ nguồn lực, công nghệ, tri thức..., đồng thời tăng cường vị thế, uy tín quốc tế.
Như vậy, quan điểm “tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên” là một trong 18 điểm mới trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XIV. Việc xác định “tăng cường quốc phòng, an ninh” và “đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế” vào nhóm nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” không chỉ là sự đổi mới tư duy mà còn thể hiện tầm nhìn chiến lược, đưa đối ngoại, hội nhập quốc tế trở thành công cụ cốt lõi của an ninh quốc gia và phát triển bền vững.
............................................
Chú thích:
(1), (2), (3), (4), (5). Toàn văn: Dự thảo báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, tr.17, 36, 36, 37, 36. (file:10.tbvk14_BCCT_14.10(xinykiennhadan).doc https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015163630117.htm
