
Ngoại giao, quốc phòng và an ninh là ba công cụ quan trọng của sức mạnh quốc gia nhằm mục tiêu chung là bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, tạo môi trường hoà bình, ổn định phát triển sức mạnh quốc gia. Đây là ba công cụ chủ chốt của Đảng và Nhà nước, hỗ trợ cho nhau dù chúng hoạt động thông qua các phương pháp cơ bản khác nhau.
Quốc phòng bao gồm khả năng và sự sẵn sàng sử dụng vũ lực nhằm răn đe sự xâm lược, bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ. Quốc phòng thường gắn liền với chiến tranh và phòng ngừa chiến tranh. Trong khi đó, an ninh bảo vệ chính trị nội bộ, chống lại diễn biến hoà bình, chống xâm nhập phá hoại từ bên trong.
Ngoại giao là công cụ mềm để duy trì và phát triển quan hệ hòa bình, ngăn ngừa xung đột, giải quyết tranh chấp, xây dựng lòng tin, sự hiểu biết lẫn nhau và thúc đẩy hợp tác quốc tế. Ngoại giao có thể được sử dụng để tìm kiếm điểm chung và tránh sử dụng vũ lực vì vậy ngoại giao còn được gọi là "tuyến phòng thủ đầu tiên".

Ngay từ ngày đầu lập nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao và sử dụng nhuần nhuyễn ba công cụ này để bảo vệ nền độc lập non trẻ và tiến hành kháng chiến thắng lợi. Bác cũng chính là Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên, là người viết thư yêu cầu các nước lớn và Liên hợp quốc kết nạp Việt Nam ngay từ những năm đầu tiên của nền dân chủ cộng hoà.
Trong chiến tranh, Đảng và Nhà nước đã chủ trương “vừa đánh vừa đàm” phát huy sức mạnh trong nước và sức mạnh thời đại, buộc đối phương phải ngồi vào bàn đàm phán ký kết hiệp định hoà bình, công nhận độc lập chủ quyền của Việt Nam. Trong thời bình, Đảng đã chăm lo thúc đẩy 3 trụ cột đối ngoại: Đối ngoại Đảng, đối ngoại Nhà nước, đối ngoại nhân dân.


Sau gần 40 năm đổi mới, hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, khá toàn diện, góp phần gia tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định.
Hội nhập quốc tế đã góp phần mở rộng và làm sâu sắc, nâng tầm quan hệ của Việt Nam với các đối tác, góp phần tạo cục diện chiến lược thuận lợi, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ.
Việt Nam hiện có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia; có quan hệ, khuôn khổ đối tác với 38 nước (gồm có đối tác toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện), là thành viên của trên 70 tổ chức khu vực và thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam có quan hệ với 259 chính đảng, với 119 quốc gia trên thế giới.

Hội nhập quốc tế đã thực sự trở thành một động lực quan trọng để nâng cao nội lực, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển đất nước, trong đó có phát triển khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, y tế; đưa nền kinh tế Việt Nam lớn mạnh, hội nhập sâu rộng với thế giới.
Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã nằm trong top 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, có quy mô kinh tế tăng gấp gần 100 lần so với năm 1986, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD lên gần 5.000 USD; có quan hệ kinh tế thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm gần 90% GDP của thế giới và mạng lưới của 20 hiệp định thương mại tự do (FTA)…
Ghi nhận tầm quan trọng của công tác đối ngoại và hội nhập trong bối cảnh cạnh tranh địa chính trị, kinh tế toàn cầu ngày càng gay gắt, trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng "đối ngoại, hội nhập quốc tế" được đề xuất đặt lên ngang hàng với quốc phòng và an ninh, trở thành nhiệm vụ "trọng yếu, thường xuyên". Đây được xem là bước đột phá trong tư duy chiến lược của Đảng, thể hiện tầm nhìn mới về bảo vệ và phát triển đất nước trong thời kỳ hội nhập toàn cầu.


“Việc khẳng định quan điểm này là vô cùng quan trọng”, GS.TS Vũ Dương Huân, nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao đánh giá. Theo GS.TS Vũ Dương Huân, tại Đại hội XVIII năm 2021, vấn đề này từng được nêu ra, nhưng đáng tiếc là Đại hội khi đó không đạt được sự đồng thuận nên ta mới chỉ khẳng định quốc phòng – an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, mà chưa đưa lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế vào cùng hệ thống nhiệm vụ.
Tuy nhiên, Nghị quyết 59 được Trung ương và Bộ Chính trị ban hành vào tháng 1/2025 đã hoàn thiện và làm rõ hơn định hướng quan trọng này.
Nghị quyết đã khẳng định rõ rằng quốc phòng, an ninh và đối ngoại – hội nhập quốc tế đều là những lĩnh vực trọng yếu, thường xuyên. Như vậy, dự thảo Đại hội XIV là sự tiếp tục khẳng định quan điểm quan trọng đó, chứ không phải mới đề cập lần đầu.
Có thể khẳng định, an ninh và đối ngoại đều liên quan chặt chẽ đến độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia – dân tộc, tức là những vấn đề cốt lõi, sống còn của một đất nước. Về cả lý luận lẫn thực tiễn, quốc phòng – an ninh – đối ngoại có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ lẫn nhau; thiếu một lĩnh vực sẽ dẫn đến sự thiếu đồng bộ, thiếu toàn diện và có thể gây tác động tiêu cực đến các lĩnh vực còn lại.

GS.TS Vũ Dương Huân đánh giá: “Việc ổn định và tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài không chỉ liên quan đến đối ngoại hay ngoại giao, mà còn gắn chặt với quốc phòng và an ninh. Khi cả ba lĩnh vực này cùng song hành và đều được coi là trọng yếu, chúng sẽ tạo ra một xung lực mạnh mẽ, thúc đẩy đất nước phát triển. Cần phải hiểu rằng ba lĩnh vực này có mối liên hệ hữu cơ, bổ trợ cho nhau, nhất là trong bối cảnh quốc tế và khu vực nhiều biến động như hiện nay.
Quốc phòng, an ninh và đối ngoại luôn vận hành trong mối tương tác trực tiếp với tình hình thế giới, với lợi ích quốc gia – dân tộc. Vì vậy, đặt cả ba lĩnh vực này vào nhóm “nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên” là cách tiếp cận khoa học, chính xác và đúng đắn nhất. Cách tiếp cận đó tạo điều kiện thuận lợi để đất nước phát triển nhanh và bền vững, đồng thời thực hiện mục tiêu mà Đại hội XIII đã đề ra là phấn đấu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.
Giải thích thêm về khái niệm an ninh của một quốc gia, Giáo sư Carl Thayer tại Học viện Quốc phòng Australia, Đại học New South Wales cho biết, ban đầu, khái niệm này chủ yếu đề cập việc ứng phó nguy cơ phá hoại từ bên trong và các mối đe dọa quân sự bên ngoài. Theo thời gian, nội hàm của khái niệm được mở rộng, bao gồm cả an ninh kinh tế và an ninh con người. Sự mở rộng này là phản ứng trước xu thế toàn cầu hóa và mức độ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn giữa các quốc gia.
“Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần áp dụng cách tiếp cận tổng thể để xử lý những xu hướng trái chiều: một mặt là toàn cầu hóa và cách mạng công nghiệp lần thứ tư; mặt khác là cạnh tranh giữa các nước lớn, xu thế phân cực, chia rẽ, trong đó an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng đan xen. Chính trong bối cảnh đó, đối ngoại và hội nhập quốc tế phải trở thành nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên nếu Việt Nam muốn bảo vệ lợi ích quốc gia và hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững”, Giáo sư Thayer nói.

GS.TS, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao đánh giá việc dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV của Đảng xác định “đối ngoại, hội nhập quốc tế là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên” phù hợp với chủ trương cải cách bộ máy trong tình hình mới, hướng tới một nền ngoại giao thống nhất vừa chuyên nghiệp, vừa toàn diện; nhanh chóng đưa Việt Nam vào dòng chảy chung, xu thế chung của thế giới, trong đó hội nhập quốc tế, tôn trọng các quy tắc luật quốc tế là yếu tố quan trọng để bảo vệ hoà bình, an ninh, ổn định; tạo điều kiện để đưa hình ảnh văn hoá và con người Việt Nam ra thế giới, mở rộng “biên giới mềm” của Việt Nam, thu hút du lịch, đầu tư, chất xám để xây dựng và phát triển đất nước; tạo cơ hội cho Việt Nam từ một đối tác tin cậy, có trách nhiệm trở thành một trong những bên tham gia xây dựng, định hình, giám sát thực thi hiệu quả trật tự thế giới dựa trên luật lệ và công bằng của cộng đồng quốc tế.
Đại sứ Bùi Thế Giang, nguyên Phó trưởng Phái đoàn Đại diện Thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, nguyên Vụ trưởng Vụ Tây Âu - Bắc Mỹ của Ban Đối ngoại Trung ương có chung quan điểm khi cho rằng: “Việc dự thảo văn kiện Đại hội XIV nêu rõ: an ninh – quốc phòng và đối ngoại, hội nhập quốc tế là những nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên là một sự xác định hoàn toàn thỏa đáng, chính xác và đặt đúng vị trí của công tác đối ngoại”.
Điều đó không chỉ phản ánh đúng thực tế là đối ngoại từ lâu đã là nhiệm vụ thường xuyên, mà còn thể hiện sự phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa đối ngoại với an ninh và quốc phòng – những trụ cột cấu thành nền tảng bảo vệ Tổ quốc.
“Trong bối cảnh hiện nay, nếu an ninh và quốc phòng được coi là nhiệm vụ cốt lõi của hai ngành nhằm thực hiện phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, thì cần nhấn mạnh rằng: “từ sớm” đòi hỏi sự phối hợp thông tin, phân tích và xử lý của nhiều ngành; còn “từ xa” thì đối ngoại chính là lực lượng đi đầu, giữ vai trò số một. Chính công tác đối ngoại mở ra không gian chiến lược bên ngoài, tạo điều kiện để ngăn ngừa xung đột từ sớm và từ xa.
Vì vậy, việc xác định đối ngoại và hội nhập quốc tế là một trụ cột ngang hàng, bình đẳng và có tầm quan trọng tương đương với quốc phòng và an ninh là hoàn toàn phù hợp với yêu cầu thực tiễn, cũng như phản ánh đúng bản chất của nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên trong giai đoạn hiện nay”, Đại sứ Bùi Thế Giang phân tích.


Tác giả: Hùng Cường, Diệp Thảo, Thùy Linh, Kiều Anh, Hoàng Lê/VOV.VN
