Làm mới các động lực tăng trưởng cũ
Trong hơn ba thập kỷ qua, Việt Nam đã có một mô hình tăng trưởng mạnh dựa vào động lực xuất khẩu và đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đang đối mặt với các rủi ro thương mại từ các vụ kiện chống bán phá giá, rủi ro về thuế đối ứng từ các quốc gia đối tác khiến các doanh nghiệp xuất khẩu gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó, hàng năm dù nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tăng mạnh nhưng sự liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp FDI cũng như việc chuyển giao công nghệ còn yếu, chưa thu hút được FDI chất lượng cao. Các doanh nghiệp Việt vẫn chưa tham gia sâu được vào chuỗi giá trị toàn cầu, chủ yếu chỉ ở khâu gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp.
TS Lê Xuân Nghĩa, Chuyên gia Kinh tế nhận định, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam hàng năm rất lớn, ví dụ năm 2024 đạt trên 400 tỷ USD, nhưng có tới 75% là của khu vực FDI, còn hàm lượng và giá trị của doanh nghiệp Việt rất thấp.
“Như vậy có khác gì Việt Nam đang xuất khẩu hộ, tăng trưởng hộ thế giới. Các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc rất thành công khi thu hút FDI bằng lợi thế công nghệ, trong khi đó Việt Nam mở toang thị trường nhưng lại vẫn kém hấp dẫn với các nhà đầu tư lớn do thị trường còn non trẻ, thiếu lợi thế cạnh tranh”, ông Nghĩa cho hay.
Vấn đề đặt ra là trong bối cảnh hiện nay, mô hình tăng trưởng dựa vào động lực xuất khẩu và đầu tư liệu có thể tiếp tục bền vững không?.
Theo TS Lê Duy Bình,Giám đốc Economica Việt Nam, hoạt động xuất khẩu vẫn đóng vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế và sẽ tiếp tục là một trong những động lực tăng trưởng thời gian tới. Tuy nhiên, cần có những giải pháp, tư duy mới để thay đổi mô hình tăng trưởng xuất khẩu.
“Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2015-2024 liên tục tăng trưởng cao, thấp nhất là 7% và cao nhất là 22%. Nhưng chúng ta có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu 10% - 15% để đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 8%/năm và cao hơn là 10%/năm trong suốt 30 năm nữa hay không. Tôi nghĩ là rất khó, chúng ta không thể mãi chỉ dựa vào tăng kim ngạch xuất khẩu để hỗ trợ tăng trưởng GDP ở tốc độ cao, đây là bài toán cần tính toán”, TS Bình nhấn mạnh.
Các động lực tăng trưởng cũ hiện nay đã không còn là lợi thế cạnh tranh của Việt Nam, nhưng cũng không thể bỏ hẳn, vẫn phải duy trì trên cơ sở làm mới các động lực tăng trưởng cũ, để nó trở nên hấp dẫn và phục vụ hiệu quả nhất cho mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030. PGS.TS Lê Xuân Bá, Chuyên gia Kinh tế cho rằng, các nước phát triển như Mỹ, Đức, Nhật Bản hay Hàn Quốc đều liên tục đổi mới mô hình tăng trưởng để giữ lợi thế cạnh tranh.
“Vì vậy, với Việt Nam việc tái cơ cấu và đổi mới mô hình tăng trưởng không phải là khẩu hiệu, mà là mệnh lệnh sinh tử. Chúng ta không thể cứ mãi ngủ quên trên hào quang cũ, Việt Nam cần phải thoát khỏi mô hình tăng trưởng cũ để bứt phá”, PGS Bá nhấn mạnh.
Thúc đẩy các động lực tăng trưởng mới
Dự thảo Báo cáo Chính trị Đại hội XIV của Đảng đề ra mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh hiện nay, để hiện thực hóa mục tiêu này là một thách thức lớn, đòi hỏi phải định hình tư duy phát triển và xác lập mô hình tăng trưởng mới, tạo lập các động lực tăng trưởng mới, đồng thời làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống là xuất khẩu và đầu tư nước ngoài.
Tuy nhiên, việc làm mới các động lực tăng trưởng cũ đòi hỏi tư duy mới của các cơ quan quản lý và vai trò tiên phong của doanh nghiệp, TS Lê Duy Bình cho rằng, tư duy ở đây không phải là tăng về kim ngạch xuất khẩu mà phải tăng về chất lượng xuất khẩu, giá trị gia tăng của hoạt động xuất khẩu và tỷ lệ nội địa hóa của hàng xuất khẩu.
“Cần nâng cao hơn nữa vai trò của doanh nghiệp Việt trong xuất khẩu, bởi khu vực FDI liên tục chiếm phần lớn tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nếu tính theo tỷ trọng của khu vực FDI trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước thì FDI luôn giữ tỷ trọng trên 70% trong suốt giai đoạn 2018-2024, như vậy, vai trò của doanh nghiệp nội địa đóng góp trực tiếp cho hoạt động của xuất khẩu chưa cao”, TS Bình nói.
Theo ông Trịnh Xuân An, đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, để đạt tăng trưởng hai con số, trước hết, phải giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, vì đây chính là điểm tựa niềm tin cho nhà đầu tư, doanh nghiệp, nền kinh tế và là nền tảng cho phát triển bền vững, ổn định xã hội.
“Chính phủ cần tập trung phát triển mạnh các động lực tăng trưởng mới, tăng trưởng hai con số không thể chỉ dựa vào mở rộng đầu tư và lao động như trước đây, mà phải dựa vào đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Cần coi kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tri thức là ba trụ cột mới, mở đường cho mô hình tăng trưởng bền vững”, ông An nhấn mạnh.
Tăng trưởng hai con số là khát vọng nhưng cũng là tham vọng của Việt Nam, nhằm hướng tới xây dựng quốc gia hùng cường và thịnh vượng. Nền kinh tế cần một mô hình tăng trưởng mới, có sự cộng hưởng mạnh mẽ từ các thành phần kinh tế; Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, dẫn dắt thông qua việc thiết lập khung khổ pháp lý minh bạch, công bằng và phát triển các hạ tầng chiến lược; khu vực kinh tế tư nhân là động lực lan tỏa sự đổi mới, sáng tạo và dẫn dắt các lĩnh vực kinh tế số, công nghiệp chế biến và dịch vụ chất lượng cao; FDI phải trở thành nguồn lực bổ sung có chọn lọc, gắn với chuyển giao công nghệ thế hệ mới và tiêu chuẩn quốc tế như ESG.
Đẩy mạnh kết nối nền kinh tế Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới thông qua việc kết nối chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị toàn cầu. Huy động nguồn lực hợp tác công tư, lấy nguồn lực nhà nước làm vốn mồi, dẫn dắt, kích hoạt mọi nguồn lực trong và ngoài nước. Khai thác hiệu quả không gian tăng trưởng mới từ các vùng, địa phương và các cực tăng trưởng, phát huy vai trò dẫn dắt của các vùng động lực, tạo sức bật lớn cho nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Một lần nữa phải nhấn mạnh lại rằng, để mô hình tăng trưởng mới cũng như các động lực tăng trưởng mới phát huy hiệu quả, cần có những đột phá chiến lược về thể chế, nguồn nhân lực và hạ tầng trên nguyên tắc “thể chế thông thoáng, hạ tầng thông suốt, nhân lực chất lượng cao và quản trị thông minh”.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, không một quốc gia, nền kinh tế nào chỉ dựa vào các động lực tăng trưởng truyền thống mà có thể phát triển nhanh được. Vì vậy việc chuyển đổi, tìm kiếm và kiến tạo động lực tăng trưởng mới là xu hướng tất yếu, nhằm hiện thực hóa khát vọng và mục tiêu vươn xa bền vững.
