Vượt ngục trở về với cách mạng, với kháng chiến

Đấu tranh để tự giải thoát, tự giải phóng để trở về tiếp tục tham gia chiến đấu là nhiệm vụ rất phổ biến mà các tổ chức đảng, đảng viên trong các nhà tù, trại giam đế quốc ở miền Nam đặt ra, xác định với quyết tâm rất cao và kiên trì thực hiện, dù tỷ lệ thành công không nhiều, khi bị địch phát hiện phải chịu đựng sự đàn áp tàn bạo, thậm chí bị địch bắn chết tại chỗ để khủng bố tinh thần và răn đe những người có ý địch vượt ngục.

Đa số các cuộc đấu tranh tự giải thoát được tiến hành dưới sự chỉ đạo công phu, chặt chẽ của các tổ chức Đảng, từ xây dựng kế hoạch, chuẩn bị điều kiện vật chất, chuẩn bị tư tưởng, tinh thần, chuẩn bị lực lượng, nắm bắt thời cơ...Bên cạnh vượt ngục, các tổ chức Đảng, đảng viên còn chớp thời cơ vùng dậy phá nhà lao, tự giải phóng.

Nổi bật là cuộc vùng dậy, phá ngục tự giải thoát của 462 tù nhân tại nhà lao Tân Hiệp năm 1956. Với tâm niệm “sống vĩ đại, chết vinh quang”, Đảng ủy nhà tù Tân Hiệp đã chuẩn bị tổ chức một cuộc vượt ngục lớn, đưa một lực lượng trở về tham gia kháng chiến.

Ngày 02/12/1956, các chiến sĩ cách mạng, người yêu nước đã tiến hành một cuộc phá khám tập thể, giải thoát gần 462 người thành công. Đoàn chiến sĩ cách mạng vượt ngục Tân Hiệp đến một Sở Cao su thì tách ra mấy chục đoàn nhỏ, mỗi đoàn vài chục người, đi nhiều hướng nhằm tránh tai mắt của kẻ thù, tìm cách móc nối, bắt liên lạc với Đảng bộ địa phương.

Riêng đoàn Nguyễn Văn Chuông, Nguyễn Trọng Tâm với gần 300 người đi về Trị An - Chiến khu Đ, bổ sung lực lượng cán bộ và lựclượng chiến đấu cho các địa phương. Đây là một lực lượng nòng cốt cho phong trào đấu tranh giải phóng cho dân tộc ở miền Nam.

Trong cuộc đấu tranh đầy hiệu quả này, Tổ chức Đảng và cấp ủy cũng như các tổ chức đoàn thanh niên trong nhà tù đã phát huy được tiếng nói tiên phong cũng như lời hiệu triệu những đảng viên và những người yêu nước, tin tưởng vào ngày thắng lợi, động viên những người đồng đội khác trong tù vươn lên giữ vững hàng ngũ đấu tranh.

Mặc dù hoàn cảnh cực kỳ khắc nghiệt, với tư tưởng tự giải phóng, các chiến sĩ yêu nước và cách mạng tại nhà tù Côn Đảo (thời kỳ 1956-1975) vẫn tìm mọi cách vượt ngục. Nhiều cuộc vượt ngục của tù án chính trị được ấp ủ và chuẩn bị trước đó đã nổ ra và giành thắng lợi.

Khu di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Nhà tù Phú Quốc 

Cuộc vượt ngục qui mô của tù chính trị Sở Lưới đã diễn ra thành công vào tháng 5/1964. Trong một chuyến đi đánh cá tại Hòn Tre (phía Tây Côn Đảo), 19 tù nhân đã trói giám thị, đoạt ghe máy về vùng giải phóng an toàn[1]. 9 giờ sáng ngày 10/5/1964, ghe máy cặp vào địa phận xã Vĩnh Lợi (Bạc Liêu). 19 chiến sĩ cách mạng vượt ngục đã vào rừng và liên lạc được với lực lượng du kích, tiếp tục tham gia chiến đấu.

Ngay sau đó, tù nhân Sở Lưới chuẩn bị một cuộc vượt ngục qui mô hơn vào diễn ra vào ngày 27/2/1965 với kế hoạch chiếm tàu vượt đảo. Kế hoạch được Đảng ủy thông qua. Khi tàu TCS-131 vào vịnh Côn Lôn, neo đậu tại Đá Trắng, kíp dọn tàu gồm 47 tù nhân Sở Lưới xuống xà lan ra tàu. Tất cả các đội viên đã được tổ chức trong các mũi xung kích bám chắc mục tiêu, theo sát từng đối tượng tác chiến. Ban chỉ huy thống nhất bí mật điều hành công việc. Mọi việc được giữ hoàn toàn bí mật.

Khi thời cơ đến, tất cả các đội đã áp sát mục tiêu, nhất tề hành động. Trong vòng 5 phút, các đội viên xung kích tiến công đội lính gác, nhanh chóng làm chủ tình hình, phần lớn giám thị, thủy thủ đều đầu hàng. Ban chỉ huy khẩn trương chỉ đạo các công việc giải quyết tù hàng binh, phá máy và quấn chân vịt tàu Thương cảng, chuyển vận vũ khí, lương thực, phương tiện đi biển sang xà lúp.

Ngày 28/2/1965, 47 tù nhân vượt đảo trở về đã an toàn trong căn cứ của một đơn vị quân giải phóng đang làm nhiệm vụ đặc biệt tại khu vực này. Ban chỉ huy cuộc võ trang vược ngục đã bàn giao tù binh vũ khí và theo sự hướng dẫn của Quân giải phóng, về địa điểm tập kết. Cuộc chiếm tàu vượt đảo của 47 tù nhân kíp dọn tàu thắng lợi trọn vẹn. Lực lượng vượt đảo sau khi báo cáo tình hình tại chiến khu đã được phân công trở về địa phương, đơn vị cũ hoặc nhận công tác theo sự chỉ đạo của Trung ương Cục miền Nam.

Nhiều cuộc vượt ngục ở Trại giam tù binh cộng sản Phú Quốc đã diễn ra như cuộc vượt ngục ở Phân khu B2 (01/1969), ở Phân khu A6, C8 (tháng 10/1969); Phân khu A5 (5/1971); Phân khu A4 (12/1971);...Vượt ngục phú Quốc được tiến hành bằng nhiều cách khác nhau, tùy thuộc điều kiện có được và sự sáng tạo, tranh thủ thời cơ của tổ chức đảng và các đồng chí vượt ngục: vượt ngục tập thể khi đi làm tạp dịch, nhất là tạp dịch vào rừng lấy củi, lợi dụng địch sơ hở tiêu diệt cai ngục cướp súng chạy vào rừng; bám vào gầm xe chở nước, chở thực phẩm hoặc chui vào bên trong téc nước thoát ra ngoài; giấu mình cuộn tròn trong thùng rác để được đưa ra; chui qua hàng rào kẽm gai;...Trong đó, đào hầm vượt ngục là hình thức phổ biến nhất, an toàn nhất và thành công nhiều nhất của những chiến sĩ cách mạng ở Trại giam Phú Quốc.

Từ 1967 đến tháng 4/1972, tại Trại giam tù binh Phú Quốc đã diễn ra 41 vụ vượt ngục. Tính đến khi Hiệp định Paris được ký kết, tổng người số vượt ngục Phú Quốc là 400 người, trong số đó có 239 đồng chí về tới căn cứ kháng chiến.

Tù nhân Côn Đảo ngày giải phóng (Ảnh tư liệu Lâm Hồng Long)

Không ngừng dấu tranh vì phong trào kháng chiến bên ngoài

Những cựu tù chính trị bị địch bắt và tù đày tại Đồng Nai cho biết, một trong những mục đích hoạt động, đấu tranh với địch trong nhà tù Mỹ- ngụy: “Chúng tôi đấu tranh trong nhà tù chính là muốn phân tán một mũi tấn công và đàn áp của kẻ thù vào những người yêu nước bên ngoài “ chúng tôi đã chia lửa cùng những đồng đội khác”[2].

Trải qua các nhà lao, tù ngục của kẻ thù như Thủ Đức, Chí Hòa, Tân Hiệp, Côn Đảo...với những hình thức tra tấn dã man của kẻ thù nhưng các tổ chức đảng, các chiến sĩ cách mạng xác định rõ nhiệm vụ, đấu tranh trong tù cũng là một mặt trận, đấu tranh theo đúng đường lối kháng chiến của Đảng, Chính Phủ, dù phải hi sinh vẫn quyết tâm chiến đấu để phân tán mũi tấn công của Mỹ- ngụy trên các mặt trận khác, đóng góp vào thắng lợi của cả dân tộc. Gương chiến đấu của các đồng chí trong nhà tù đế quốc trở thành nguồn cổ vũ lớn lao đối với đồng bào, chiến sĩ cả nước trên các mặt trận, cuộc kháng chiến của cả nước vì ngày thống nhất đất nước.

Tại Nhà tù Côn Đảo, tổ chức Đảng đề ra phương châm đấu tranh cơ bản là: Kết hợp đấu tranh chính trị với dân sinh dân chủ, kiên trì, đấu tranh giành thắng lợi từ thấp đến cao, kết hợp các hình thức đấu tranh hợp pháp, bán hợp pháp và bất hợp pháp... Trong bất kì tình huống nào, mỗi cá nhân, mỗi bộ phận đều phải nắm vững phương châm hành động, tự lực chiến đấu. Đẩy mạnh công tác binh vận, mỗi người tù chính trị, tù binh đều phải làm công tác binh vận nhằm tranh thủ, phân hóa cao độ kẻ thù, cô lập triệt để những phần tử ác ôn[3]. Công tác binh vận, địch vận[4] trong tù được các tổ chức Đảng, đảng viên tiến hành ở mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện. Nhờ công tác này mà tổ chức Đảng, đảng viên nắm được tương đối kịp thời âm mưu thủ đoạn của địch, thông tin về an ninh của địch; nắm bắt được mức độ khai báo của những người bị bắt để kịp thời đối phó, đấu tranh, hạn chế tổn thất trước sự khủng bố của địch; khoét sâu mâu thuẫn trong bộ máy cai trị của địch; liên lạc với phong trào kháng chiến bên ngoài, thúc đẩy cuộc đấu tranh chung.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa luôn tìm mọi cách bưng bít chính sách tra tấn, đày ải dã man trong các nhà tù của chúng. Tổ chức Đảng, những người tù yêu nước và cách mạng bị đày ải tranh thủ mọi cơ hội để đấu tranh tố cáo chế độ nhà tù dã man của chính quyền Sài Gòn trước công luận, đã được sự ủng hộ mạnh mẽ của phong trào kháng chiến bên ngoài. Sinh viên Sài Gòn đã tổ chức đấu tranh tiêu tố cáo chế độ “chuồng cọp” dã man tại nhà tù Côn Đảo, gây sửng sốt và chấn động dư luận cả nước và quốc tế vào năm 1970,…. góp phần phơi bày bản chất tàn bạo của đế quốc Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Ngày 27/01/1973, Hiệp định Paris được ký kết. Theo tinh thần các điều khoản của hiệp định thì số tù nhân chính trị và quân sự phải được lần lượt trao trả cho hai phía đúng thời gian qui định. Thế nhưng đế quốc Mỹ chính quyền Sài Gòn vẫn ngoan cố không thực hiện các điều khoản đã được ký kết. Chúng tiếp tục hành quân lấn chiếm vùng giải phóng, đánh phá cách mạng, khủng bố nhân dân miền Nam; bắt bớ đồng bào, chiến sĩ, đưa về giam giữ tại các nhà tù, trại giam như Côn Đảo, Tân Hiệp, Cần Thơ…Chúng thường xuyên luân chuyển tù nhân để tránh sự kiểm soát của Uỷ ban giám sát quốc tế và các ban liên hợp quân sự hai bên và bốn bên; xáo trộn, chia nhỏ người tù để chia rẽ lực lượng tù nhân, cản trở hoạt động của đảng viên, tìm cách tiêu diệt tổ chức Đảng trong tù; bưng bít thông tin, cách ly hoàn toàn với phong trào giải phóng.

Các tổ chức Đảng trong các nhà tù Côn Đảo, Tân Hiệp, Cần Thơ, Phú Quốc...đã tổ chức đấu tranh chống địch đánh tráo tù chính trị thành tù thường phạm, biến tù binh thành tù tư pháp; đấu tranh không chấp nhận phóng thích mà đòi phải được trao trả cho Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam vào năm 1973. Nhiều hình thức đấu tranh tố cáo chế độ nhà tù dã man, tàn bạo của chính quyền Sài Gòn trong thời gian trao trả tù binh đã gây chấn động dư luận cả nước và quốc tế, góp phần tích cực vào mặt trận đấu tranh ngoại giao của Đảng, Nhà nước.

Cùng với đấu tranh pháp lý đòi thi hành đúng Hiệp định Paris, trước âm mưu giấu giếm, không chịu trao trả, hòng thủ tiêu hàng loạt tù chính trị, cuộc đấu tranh tự giải phóng của các chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày ở các nhà tù trại giam đế quốc trong những ngày cuối của cuộc kháng chiến vẫn diễn ra quyết liệt, sôi sục.

Không chỉ tự giải phóng, các chiến sĩ thoát ngục đã tích cực tham gia vào nhiệm vụ giải phóng địa phương, thiết lập chính quyền cách mạng lâm thời, giải quyết những công việc cấp bách về dân sinh, duy trì trật tự, an ninh, quốc phòng, khẳng định chủ quyền biển đảo ngày sau ngày giải phóng. Đó là các cuộc đấu tranh tự giải phóng của các chiến sĩ bị giam giữ tại Trại giam Vùng IV chiến thuật ở Cần Thơ vào 30/4 và 01/5/ 1975; cuộc đấu tranh tự giải phóng, làm chủ Côn Đảo của tù chính trị Côn Đảo vào ngày đầu tháng 5/1975; cuộc đấu tranh phá ngục của các chiến sĩ cách mạng tại nhà tù Tân Hiệp, ngày 29/4/1975.

Các cuộc đấu tranh trong các nhà tù, trại giam của Mỹ và chính quyền Sài Gòn ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 được đặt dưới sự lãnh đạo của tổ chức Đảng và đã thực sự trở thành một mặt trận đấu tranh đặc biệt, một phần quan trọng của cuộc kháng chiến, và đã có những đóng góp lớn vào cuộc đấu tranh hoàn thành nhiệm vụ dân tộc, dân chủ, nhân dân ở miền Nam, thống nhất đât nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Cuộc đấu tranh của cán bộ, đảng viên và quần chúng kiên trung trong các nhà tù, trại giam của địch tuy trải qua nhiều tổn thất và gặp vô vàn khó khăn nhưng đã kết thúc thắng lợi cùng với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc”[5].

Thời gian đã lùi xa, nhưng những giá trị tinh thần, những bài học, kinh nghiệm của tổ chức đảng, các chiến sĩ trên mặt trận đấu tranh trong hoàn cảnh đặc biệt chốn lao tù, vẫn mãi là hành trang cho cuộc sống và cần được tiếp tục phát huy trong nhiệm vụ xây dựng Đảng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 

[1] Hồ sơ lưu trữ mang kí hiệu 8425/HC của Tổng nha Cảnh sát và Công an ngụy cho biết 19 can phạm có tên là Lâm Văn Biền, Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Văn Bảy (tự Bảy Bà Rịa), Sum, Sáu Bé, Ngói, Tây, Hải, Giác, Chính, Đào, Bé, Hoa, Dồi, Bá, Sáu Bùi, Hoá, Tươi, Mãi. Cuộc vượt ngục này do Ngói, Tây và Chính chỉ huy.

[2] Bà Trần Thị Hòa, tự Ba Hòa, nữ tù chính trị tại Nhà tù Tân Hiệp. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, bà Hòa được trao trả cho Chính phủ lâm thời cách mạng miền Nam Việt Nam.

[3] Phát biểu của đồng chí Nguyễn Ngọc Cao, nguyên Bí thư Đảng bộ Lưu Chí Hiếu (1972) của tù chính trị câu lưu Trại VI B tại cuộc Hội thảo nhân chứng do Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo tổ chức tháng 3/1985. Hồ sơ lưu trữ của Phòng Lịch sử Đảng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bà Rịa - Vũng Tàu.

[4] Công tác binh vận, địch vận trong tù thường được gọi bằng khái niệm phổ biến là công tác “tranh thủ”, bao gồm toàn bộ công tác vận động các đối tượng trong bộ máy cai trị của địch, từ những tù nhân được địch chỉ định làm trật tự, đại diện trại, phòng, nhân viên văn phòng cho đến công chức, binh lính, công an, giám thị, cải huấn bằng mọi hình thức, giáo dục, vận động, lôi kéo, tranh thủ, trung lập, cô lập, kể cả trấn áp.

[5] Nhận định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị gặp mặt các đồng chí đã từng tham gia cấp ủy trong các nhà tù và trại giam của địch thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975), do Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức ngày 10/12/2014. Xem: Báo Nhân dân, thứ Tư, 10/12/2014; Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 02/02/2015