Hòa bình, hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các quốc gia, dân tộc trên thế giới là khát vọng của nhân dân Việt Nam và toàn thể nhân dân thế giới. Lúc sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng xây dựng văn hóa hòa bình trong quan hệ ngoại giao của nước ta. Giá trị của hòa bình, văn hóa hòa bình được khẳng định xuyên suốt trong mỗi giai đoạn của cách mạng và ngày càng được phát huy mạnh mẽ, nhất là trong bối cảnh quốc tế hiện nay

Khát vọng hòa bình trong tư tưởng và hành động Hồ Chí Minh

Một là, hòa bình là khát vọng của mỗi con người, mỗi một dân tộc và cả nhân loại trong hàng ngàn năm lịch sử, bởi lẽ “phong tục mỗi dân mỗi khác, nhưng có một điều thì dân nào cũng giống nhau,...là dân nào cũng ưa sự lành và ghét sự dữ”[1]. Tư tưởng hòa bình cho dân tộc mình và cho nhân loại đã được Hồ Chí Minh tiếp cận và kiên trì xây dựng, phát triển trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người.

Khát vọng hòa bình, độc lập cho dân tộc đã thôi thúc người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước. Từ thực tiễn đất nước mình, từ trải nghiệm trên nhiều quốc gia, dân tộc, với mong muốn hòa bình cho Việt Nam và cho các dân tộc, ngày 18/6/1919, thay mặt những người Việt Nam yêu nước tại Pháp, Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Versailles bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm rất ôn hòa, yêu cầu Chính phủ Pháp trao trả một số quyền tự do, dân chủ cơ bản tối thiểu cho nhân dân Việt Nam. Những yêu sách ôn hòa đó của nhóm người Việt Nam yêu nước của Nguyễn Ái Quốc đều không được Chính phủ Pháp, cũng như các nước trong Hội nghị Versailles quan tâm.

Thiết tha mong muốn hòa bình, ngay trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần đưa ra đề nghị năm điểm thông qua cựu sĩ quan tình báo người Pháp Jean Sainteny gửi tới Chính phủ Pháp, đề xuất bầu một nghị viện do một người Pháp làm chủ tịch qua cuộc phổ thông đầu phiếu. Sau năm năm, muộn nhất là 10 năm, nước Pháp sẽ trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam, Pháp sẽ được hưởng những ưu tiên về kinh tế. Chính phủ Pháp vẫn “im lặng”.

Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, ngày 20/10/1945, Người đánh giá cao tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái, cống hiến của nước Pháp cho văn hóa, khoa học văn minh và nêu lên những điểm tương đồng giữa hai dân tộc là khát vọng độc lập, tự do, đồng thời kêu gọi: “Hỡi những người Pháp ở Đông Dương! Các bạn không nghĩ rằng máu nhân loại đã chảy nhiều, rằng hòa bình - một nền hòa bình chân chính xây trên công bình và lý tưởng dân chủ - phải thay cho chiến tranh, rằng tự do, bình đẳng, bác ái phải thực hiện trên khắp các nước không phân biệt chủng tộc và màu da ư”[2]. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng thay mặt nhân dân, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi thông điệp hòa bình hữu nghị đối với nhân dân toàn thế giới. Việt Nam muốn “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai[3]. Việt Nam sẽ hợp tác với mọi nước vui lòng hợp tác thật thà và bình đẳng với Việt Nam”[4].

Bác Hồ trong chuyến thăm Pháp tìm kiếm hòa bình trong năm 1946 (Ảnh tư liệu)

Khi mọi khả năng hòa hoãn không còn nữa, kháng chiến toàn quốc bùng nổ, trong thời gian từ tháng 12/1946 đến tháng 3/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì mong muốn hòa bình, 8 lần gửi thông điệp cho Tổng thống, Chính phủ, Quốc hội và nhân dân Pháp, đề nghị hòa bình. Đặc biệt trong Thư ngày 10/01/1947, Người nhấn mạnh: “Chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và Việt ngừng chảy. Những dòng máu đó chúng tôi đều quý như nhau”[5].

Sau khi Hiệp định Geneva (năm 1954) được ký kết, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên trì đường lối thống nhất đất nước bằng con đường thi hành hiệp định. Người vẫn bày tỏ: “Nhân dân Việt Nam tin chắc rằng mọi sự phân tranh trên thế giới đều có thể giải quyết bằng cách hòa bình; tin chắc rằng các nước dù chế độ xã hội khác nhau và hình thái ý thức khác nhau cũng đều có thể chung sống hòa bình được”[6].

Hai là, nền hòa bình chân chính trong độc lập, tự do; hòa bình trong khoan dung, nhân ái

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, hòa bình phải đi liền với độc lập dân tộc, là nguyên tắc hàng đầu “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong quan hệ đối ngoại, xử lý các vấn đề lợi ích dân tộc, quốc tế của Việt Nam.

Ngày 02/9/1945, trong Tuyên ngôn Độc lập, Người khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”[7].

Ngày 20/10/1945, trong Thư gửi những người Pháp ở Đông Dương, Người nói rõ: “”Các bạn yêu nước Pháp của các bạn và muốn nó độc lập. Các bạn yêu đồng bào của các bạn và muốn họ được tự do. Lòng yêu nước thương nòi này làm vẻ vang các bạn vì nó là lý tưởng cao quý nhất của loài người. Nhưng chúng tôi cũng phải được phép yêu nước của chúng tôi và muốn nó độc lập chứ! Chúng tôi cũng phải được phép yêu đồng bào chúng tôi và muốn họ được tự do chứ! Cái mà các bạn coi là lý tưởng cũng phải là lý tưởng của chúng tôi”[8].

Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, nhân dân Việt Nam lại phải tiếp tục cầm súng chống đế quốc Mỹ xâm lược, bảo vệ nền độc lập của dân tộc, Người khẳng định với nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới: “Nhân dân Việt Nam rất thiết tha với hòa bình, nhưng hòa bình thật sự không thể tách khỏi độc lập thực sự. Vì đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam, cho nên nhân dân Việt Nam phải chống lại để bảo vệ độc lập và gìn giữ hòa bình”[9].

Nhiều lần viết thư gửi nhân dân Mỹ, Tổng thống Mỹ, Hồ Chí Minh đều bày tỏ khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam “Nhân dân Việt Nam chúng tôi rất yêu chuộng hòa bình, một nền hòa bình chân chính trong độc lập và tự do thật sự”[10].

Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tấm lòng yêu chuộng hòa bình, nhưng hòa bình đối với Người là phải nhân ái, khoan dung. Trên chiến trường trong những ngày kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Người luôn căn dặn phải hạn chế thương vong, bởi lẽ trong trái tim của Người: “thì máu Pháp hay máu Việt cũng đều là máu, người Pháp hay người Việt cũng đều là người”[11].

Đối với những người Pháp bị bắt trong chiến tranh, Người luôn thể hiện sự khoan dung, nhân ái “...ta phải canh phòng cẩn thận, nhưng phải đối đãi với họ cho khoan hồng...Chúng ta chỉ đòi độc lập tự do, chứ chúng ta không vì tư thù tư oán, làm cho thế giới biết rằng chúng ta là một dân tộc văn minh”[12] và là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, công lý và nhân đạo.

Hình ảnh của Bác Hồ bịt tay vào nòng pháo trên chiến hạm Pháp cho thấy khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam (Ảnh tư liệu)

Phát triển giá trị hòa bình của Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế hiện nay

Như vậy, có thể khẳng định, xuyên suốt mọi giai đoạn của cách mạng Việt Nam, tư tưởng hòa bình, hữu nghị là sợi chỉ đỏ xuyên suốt từ trong đường lối của Đảng đến các chính sách của Nhà nước đều thể hiện sự yêu chuộng, khát khao hòa bình của dân tộc Việt Nam.

Từ Đại hội VI của Đảng, đến các nhiệm kỳ Đại hội sau này, Đảng đều khẳng định tư tưởng hòa bình, độc lập, hữu nghị và hợp tác với các nước, các tổ chức và nhân dân thế giới.

Đại hội VII (1991) của Đảng đã xác định nhiệm vụ đối ngoại là giữ vững hòa bình, mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần vào cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Từ chủ trương đối ngoại rộng mở được đề ra tại Đại hội VI, sau đó được các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị khóa VI, VII, VIII phát triển thành đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển”.

Sự phát triển tư duy đối ngoại hòa bình, hữu nghị được thể hiện rõ hơn trong Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006) của Đảng, tiếp tục hoàn thiện đường lối đối ngoại của Đại hội VIII, IX thành đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đồng thời phân biệt rõ chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác.

Đại hội XI (2011) của Đảng chủ trương “Mở rộng hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”[13] triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại với 4 nội dung cơ bản: thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại; thúc đẩy giải quyết các vấn đề còn tồn đọng về biên giới, lãnh thổ và bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại.

Đến Đại hội XII (2016), Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới”[14].

Những năm gần đây, thế giới và khu vực chứng kiến những diễn biến nhanh, phức tạp, chứa đựng các yếu tố bất an, bất định, bất ngờ, tác động đa chiều đến môi trường an ninh và phát triển của các quốc gia, trong đó có nước ta. Nhiều nước và khu vực trên thế giới phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức và bất ổn. Chiến sự giữa Mỹ, Israel với Iran bước sang tuần thứ tư nhưng chưa có dấu hiệu chấm dứt, trong bối cảnh đó, những giá trị nhân văn cao đẹp của văn hóa hòa bình Hồ Chí Minh càng tỏa sáng, soi đường cho Việt Nam xây đắp hòa bình, giải quyết những vấn đề của quốc gia, khu vực và toàn cầu.

Trên cơ sở phân tích, dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Đại hội XIV của Đảng đã đề ra đường lối, chính sách đối ngoại của Việt Nam thời gian tới là: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; hiệu quả. Phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước; không ngừng nâng cao tiềm lực, vai trò, vị trí, uy tín quốc tế của đất nước”[15].

 

[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 4, tr 397.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr 76-77.

[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr256.

[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr 195.

[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr 24.

[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.10, tr 12.

[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr 1.

[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr 75.

[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr 3.

[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr 602.

[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr 510.

[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr 29-30.

[13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 46.

[14] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 79.

[15] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr 264.