Chuyển thể các tác phẩm văn học sang điện ảnh hiện đang trở thành xu hướng nổi bật trong ngành công nghiệp điện ảnh ở nhiều quốc gia trên thế giới. Trong bối cảnh đó, đạo diễn Đặng Thái Huyền đã sử dụng ngôn ngữ điện ảnh để kiến tạo một “đời sống” mới, một “diện mạo” mới cho tiểu thuyết “Mưa đỏ” của nhà văn Chu Lai. Hiệu ứng từ bộ phim “Mưa đỏ” đã mang lại những tín hiệu tích cực, góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp điện ảnh Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Poster của phim Mưa đỏ. Ảnh: hanoimoi

“Mưa đỏ” - Khi điện ảnh “vay mượn” từ văn chương

Kịch bản phim “Mưa đỏ” được xây dựng dựa trên chất liệu “vay mượn” từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Lai. Nhà làm phim Đặng Thái Huyền đã khéo léo vận dụng ngôn ngữ điện ảnh để tái hiện lịch sử dân tộc tại chiến trường Thành cổ Quảng Trị năm 1972 một cách chân thực và giàu cảm xúc. Trong quá trình chuyển thể, đạo diễn không chỉ trung thành với tinh thần cốt lõi của tiểu thuyết mà còn có sự tiếp thu, kế thừa và cải biên về việc xây dựng hình tượng nhân vật, lựa chọn những “lát cắt” đắt giá nhất về đời sống chiến trường, về sự khốc liệt của chiến tranh để đưa lên màn ảnh. Chính sự giao thoa giữa chất liệu văn học và nghệ thuật điện ảnh đã làm nên dấu ấn đặc biệt của “Mưa đỏ” trong lòng khán giả Việt.

Tác giả Henri Bernac từng cho rằng, điện ảnh mang đến cho người xem “ngôn từ của nhà văn, tranh của họa sĩ, diễn xuất của diễn viên trên sân khấu, giai điệu của nhạc sĩ trong bản nhạc” (1). Chất liệu của điện ảnh là hình ảnh và âm thanh, là sự hòa hợp của những thứ có thể nghe thấy và nhìn thấy, là tái hiện thế giới cụ thể để kể một câu chuyện. Và “Mưa đỏ” là câu chuyện về sự kiên cường, bất khuất, dũng cảm của 7 người lính trẻ ở Tiểu đội 1, cùng chiến đấu trong 81 ngày đêm khốc liệt tại Thành Cổ Quảng Trị. Đó là Cường (nhân vật trung tâm) - sinh viên Nhạc viện; đội trưởng Tạ - chàng trai Thanh Hoá bộc trực, thẳng thắn và đầy hóm hỉnh; Tú - cậu học sinh sắp tốt nghiệp cấp 3 viết đơn xin nhập ngũ; Hải – nhân viên điện nước với chất giọng Quảng Nam đặc sệt; Sen - anh lính đặc công rắn rỏi, đầy thiện chiến; Bình - chàng trai cương nghị; Tấn - chàng tân sinh viên với tâm thế đầy lạc quan và “ngây thơ” khi nhìn về chiến tranh. Bảy người lính trẻ đến từ những miền quê khác nhau nhưng họ cùng chung một lý tưởng, sẵn sàng hi sinh tuổi xuân, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để giành độc lập, tự do cho dân tộc. Bộ phim không chỉ tập trung vào những góc cạnh khốc liệt của chiến tranh mà còn đó là mối tình chớm nở của của Cường và Hồng, một mối tình lãng mạn nhưng đầy day dứt. Sự hiện diện của tuyến tình cảm này không làm giảm đi tính bi tráng của bộ phim, mà ngược lại còn góp phần tạo nên góc nhìn đa chiều về chiến tranh - đó không chỉ là mất mát và hi sinh, mà còn là khát vọng tình yêu, khát vọng hạnh phúc đời thường của người trẻ bị chôn vùi dưới đạn bom.

Có thể thấy, với ngôn ngữ điện ảnh dung dị và đầy tinh tế, “Mưa đỏ” đã đem đến một đời sống riêng, một dấu ấn sáng tạo riêng, khơi gợi trong lòng khán giả những cung bậc cảm xúc sâu lắng về ký ức chiến tranh, về sự hi sinh anh dũng, quả cảm của thế hệ cha anh. Bộ phim không chỉ tái hiện lịch sử qua lăng kính nghệ thuật mà còn mở ra một không gian đối thoại giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ hôm nay thêm biết ơn, trân trọng lịch sử dân tộc và giá trị cao cả của hòa bình, tự do.

Phát triển công nghiệp điện ảnh từ dòng phim chuyển thể

Công nghiệp điện ảnh Việt Nam được xem là “vùng đất” giàu tiềm năng, mở ra cơ hội lớn cho nhà sản xuất phim trong nước và quốc tế khai thác hiệu quả giá trị kinh tế từ việc sáng tạo nội dung và phân phối sản phẩm điện ảnh. Năm 2024 ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của thị trường phát hành và phổ biến phim. Cả nước có đến 5 cơ sở trong nước, 7 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài đang hoạt động trong lĩnh vực phát hành, phổ biến phim và 11 doanh nghiệp đủ điều kiện thực hiện phân loại phim trên không gian mạng (2). Giai đoạn 2018-2022, ngành điện ảnh Việt Nam tăng trưởng ổn định với giá trị sản xuất bình quân tăng 8,03%/năm và giá trị gia tăng bình quân tăng 7,94%/năm. Doanh thu chiếu phim liên tục cải thiện, từ 3.250 tỷ đồng trong năm 2017 tăng lên 3.353 tỷ đồng năm 2018, đặc biệt, trong năm 2019, doanh thu toàn ngành đạt 4.064 tỷ đồng (tăng 21,2% so với 2018, tăng gấp 1,25 lần so với 2017) (3).

Phát triển công nghiệp điện ảnh từ dòng phim chuyển thể đang trở thành một xu hướng quan trọng trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Việc chuyển thể các tác phẩm văn học sang ngôn ngữ điện ảnh không chỉ làm phong phú thêm nguồn kịch bản, mà còn mở ra cơ hội gắn kết giữa hai loại hình nghệ thuật có sức ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội. Ở Việt Nam, dòng phim chuyển thể không chỉ góp phần làm mới diện mạo điện ảnh đương đại, mà còn mang trong mình tiềm năng kiến tạo “sức mạnh mềm” văn hóa. Nhiều tác phẩm điện ảnh khai thác chất liệu văn học đã mang về doanh thu ấn tượng, đóng góp tích cực vào sự phát triển ngành công nghiệp điện ảnh. Điển hình như: bộ phim “Chuyện của Pao” của đạo diễn Ngô Quang Hải được chuyển thể từ truyện ngắn “Tiếng đàn môi sau bờ rào đá” của nhà văn Đỗ Bích Thuý đã vinh dự đạt giải thưởng Cánh diều vàng năm 2005; bộ phim “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” của đạo diễn Việt Linh được chuyển thể từ truyện dài cùng tên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh mang về doanh thu hơn 78 tỷ đồng; bộ phim “Mắt biếc” của đạo diễn Victor Vũ được chuyển thể từ truyện ngắn cùng tên của nhà văn Nguyễn Nhật Ánh đã thu về hơn 180 tỷ đồng và xuất sắc đoạt giải Bông Sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ 22; hay bộ phim “Mưa đỏ” của đạo diễn Đặng Thái Huyền được chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Lai đã “cán mốc” doanh thu phòng vé kỷ lục với 300 tỷ đồng (tính đến ngày 31/8/2025, sau 9 ngày chính thức ra rạp);…

Các tác phẩm điện ảnh chuyển thể từ văn học không chỉ khẳng định sức hút thương mại qua doanh thu phòng vé ấn tượng, mà còn mở ra cơ hội phát triển du lịch, quảng bá vẻ đẹp cảnh quan, bản sắc văn hoá và con người địa phương đến với du khách trong và ngoài nước. Đơn cử như: “Mắt biếc” (2019) với bối cảnh chính ở thành phố Huế đã khiến Lăng Khải Định, cây cô đơn (cây Vông Đồng), đồi Thiên An, cầu Dã Viên,… trở thành những điểm đến thu hút du khách; hay “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” cũng tạo nên “cơn sốt” tìm về Phú Yên để tận hưởng gió biển ở mũi Điện, ngắm nhìn sóng vỗ ở Gành Đá Đĩa, hoà mình vào những thảm hoa vàng trên cồn cát,…; hay mới đây nhất là “Mưa đỏ” (2025), khi những thước phim trên màn ảnh đã thôi thúc khán giả tìm về với Thành cổ Quảng Trị, về với bến sông Thạch Hãn để tưởng nhớ và tri ân những anh hùng đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc;… Những hiệu ứng tích cực này cho thấy tiềm năng to lớn của dòng phim chuyển thể không chỉ ở khía cạnh thương mại mà còn ở khả năng tạo dựng cầu nối giữa điện ảnh - văn học - du lịch, tạo động lực quan trọng trong phát triển công nghiệp điện ảnh Việt Nam.

Nhìn chung, công nghiệp điện ảnh Việt Nam với tư cách là một trong những ngành công nghiệp văn hoá mũi nhọn, đang ngày càng thể hiện vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc và lan toả hệ giá trị chính trị - xã hội quốc gia. Đặc biệt, dòng phim chuyển thể từ tác phẩm văn học đã và đang tạo nên những “cú hích” ấn tượng cho điện ảnh Việt. Điều này cho thấy, phát triển công nghiệp điện ảnh không chỉ là xu thế tất yếu của tiến trình hội nhập mà còn là trụ cột chiến lược để nâng cao “sức mạnh mềm” văn hoá, khẳng định bản sắc và vị thế Việt Nam trên trường quốc tế.

Mục lục tham khảo:

(1) Trần Hinh (2015),  Khuynh hướng tiểu thuyết  -  Điện ảnh trong Văn học Pháp thế kỉ XX, http://vienvanhoc.vass.gov.vn/noidung/tintuc/Lists/VanHocNuocNgoai/View_Detail.aspx?ItemID=33, ngày 26/08/2025.

(2) TS Đỗ Quốc Việt, “Kết quả triển khai Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/6/2016 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển các ngành Công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 trong lĩnh vực điện ảnh”, tr.2.

(3) Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2023), Báo cáo số 51/BC-BVHTTDL ngày 22/3/2023 về “Đánh giá 5 năm triển khai, thực hiện Quyết định số 1755/QĐ-TTg ngày 08/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”, tr.3.