Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra trong một giai đoạn mà cả thế giới và đất nước đều đang đứng trước những chuyển dịch mang tính thời đại. Trên bình diện toàn cầu, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặc biệt là Cách mạng công nghiệp 4.0 đang phát triển mạnh mẽ và trở thành động lực cho phát triển toàn cầu.
Đặc điểm nổi bật của Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự phát triển nhanh chóng của các công nghệ cốt lõi như trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), Dữ liệu lớn (Big data), Điện toán đám mây (Cloud computing), Blockchain, robot thông minh và tự động hóa,… Những công nghệ này không phát triển một cách rời rạc, riêng lẻ mà kết hợp với nhau để hình thành một hệ sinh thái công nghệ và thúc đẩy lẫn nhau. Những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đã và đang tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống xã hội của tất cả các quốc gia trong đó có Việt Nam.
Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thúc đẩy chuyển đổi số, tái cấu trúc nền kinh tế và thị trường lao động toàn cầu đồng thời nó cũng đang làm thay đổi vị thế của các quốc gia. Khoa học - công nghệ không chỉ trở thành lợi thế cạnh tranh mà còn là chỉ số đánh giá tiềm lực, sức mạnh tổng hợp của một quốc gia và làm thay đổi vị thế của các quốc gia trên bản đồ quyền lực toàn cầu. Không chỉ mang đến thời cơ phát triển, Cách mạng công nghiệp 4.0 còn đang đặt các quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam đứng trước nhiều thách thức lớn như nguy cơ bị tụt hậu ngày càng xa so với các nước phát triển, các vấn đề an ninh mạng ngày càng gia tăng, đặc biệt là nguy cơ của tội phạm công nghệ cao, an ninh và chủ quyền quốc gia trên không gian số, những thách thức đối với quản trị quốc gia khi mà trí tuệ nhân tạo ngày càng phát triển,…
Ý thức rõ những thời cơ và thách thức mà Cách mạng công nghiệp 4.0 đang mang đến cho đất nước, trong những năm gần đây, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển tiềm lực khoa học - công nghệ quốc gia. Ngày 22 tháng 12 năm 2024, Tổng Bí thư Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết ra đời đã đáp ứng kịp thời những yêu cầu cấp bách của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên số, có ý nghĩa quan trọng trong việc định hướng phát triển đất nước theo xu thế của thời đại.
Cùng với đó, Đảng và Nhà nước cũng đặc biệt quan tâm thu hút đầu tư của các tập đoàn công nghệ lớn trên thế giới. Ngày 5 tháng 12 năm 2024, tập đoàn NVIDIA đã ký Thỏa thuận hợp tác với Chính phủ Việt Nam. Gần đây nhất Công ty SpaceX của tỷ phú Elon Musk đã được cấp phép cung cấp dịch vụ internet vệ tinh Starlink tại Việt Nam. Để có được những kết quả đó, ngành ngoại giao góp công không nhỏ. Xuất phát từ thực tiễn trên cùng với nhận thức sâu sắc về mối quan hệ giữa ngoại giao với khoa học - công nghệ, Đại hội XIV của Đảng chính thức bắt đầu sử dụng thuật ngữ “ngoại giao công nghệ” như một trọng tâm mới của ngoại giao Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV xác định phương hướng hoạt động ngoại giao trong thời gian tới đó là: “Đẩy mạnh ngoại giao toàn diện phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, ngoại giao công nghệ”[i]. Việc đặt ngoại giao công nghệ ngang hàng với ngoại giao kinh tế đồng thời coi đó là nhiệm vụ trọng tâm cho thấy Đảng ta không những coi trọng vai trò của ngoại giao công nghệ mà còn coi đây là một hướng đột phá ngoại giao nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên công nghệ hiện nay.
Nếu như khoa học - công nghệ được coi là động lực phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới thì ngoại giao công nghệ có nhiệm vụ huy động nguồn lực khoa học - công nghệ của thế giới để phục vụ cho mục tiêu phát triển đất nước. Để triển khai hiệu quả hoạt động ngoại giao công nghệ, trong thời gian tới chúng ta cần tập trung làm tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, ngoại giao phải phát huy tính tiên phong trong việc mở đường để thu hút nguồn lực khoa học - công nghệ từ bên ngoài phục vụ mục tiêu chuyển đổi số nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Một trong những mục tiêu của ngoại giao công nghệ đó là thu hút đầu tư của các tập đoàn công nghệ để giúp Việt Nam từng bước tham gia vào hệ sinh thái công nghệ toàn cầu, đồng thời xây dựng các trung tâm nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo và trung tâm sản xuất công nghệ cao. Thông qua ngoại giao, Việt Nam cần tiếp cận được các công nghệ lõi như AI, chất bán dẫn, dữ liệu lớn, IoT, Blockchain,… Đây cũng là cách để Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị công nghệ toàn cầu.
Thứ hai, ngoại giao công nghệ cần tập trung kết nối giới học thuật trong nước với quốc tế, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu khoa học và đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệ giữa các viện nghiên cứu, các trường đại học của Việt Nam với đối tác nước ngoài. Ngoại giao công nghệ không chỉ dừng lại ở việc thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực khoa học - công nghệ mà còn hướng tới thúc đẩy chuyển giao công nghệ, từ đó nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ của đất nước.
Thứ ba, thông qua ngoại giao công nghệ, Việt Nam cần tham gia xây dựng nguyên tắc, luật lệ và chuẩn mực công nghệ quốc tế. Trong kỷ nguyên số, công nghệ không chỉ là nguồn lực để phát triển kinh tế mà nó còn gắn với vấn đề an ninh quốc gia. Do đó, an ninh, an toàn dữ liệu là yêu cầu tiên quyết trong bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng. Do đó, Việt Nam cần tích cực tham gia cùng cộng đồng quốc tế xây dựng các chuẩn mực chung về chủ quyền dữ liệu, đạo đức trí tuệ nhân tạo, tiêu chuẩn an ninh mạng…
Thứ tư, tăng cường hoạt động ngoại giao phục vụ mục tiêu chuyển đổi số và phát triển kinh tế số. Ngoại giao công nghệ theo tinh thần Đại hội XIV cần huy động nguồn lực quốc tế phục vụ quá trình chuyển đổi số quốc gia. Thông qua hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế, các tập đoàn công nghệ, các trung tâm, viện nghiên cứu các trường đại học, Việt Nam có thể tiếp cận được các công nghệ số tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm chuyển đổi số của các nước, thu hút nguồn lực đầu tư vào xây dựng hạ tầng công nghệ số, nâng cao năng lực đảm bảo an ninh mạng,… Đây là những tiền đề quan trọng giúp Việt Nam từng bước xây dựng nền kinh tế số, xã hội số.
Tóm lại, việc sử dụng thuật ngữ “ngoại giao công nghệ” và việc đặt ngoại giao công nghệ ngang hàng với ngoại giao kinh tế, đồng thời coi đó là trọng tâm của nền ngoại giao toàn diện Việt Nam cho thấy định hướng lớn của Đảng ta đối với hoạt động ngoại giao đó là gắn ngoại giao với định hướng phát triển đất nước và coi ngoại giao công nghệ là hướng chiến lược để hỗ trợ, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia.
[i] Đảng Cộng sản Việt Nam: “Toàn văn: Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ưởng Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng”, https://xdcs.cdnchinhphu.vn/446259493575335936/2026/2/6/bao-cao-ctri-17703880212842123567259-17703933605411372590556.pdf, truy cập ngày 24/2/2026.
