Trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 95 năm qua, đã có tất cả 13 đồng chí từng giữ cương vị Tổng Bí thư (có thời điểm gọi là Tổng Thư ký, Bí thư thứ nhất) của Đảng, trong đó đồng chí Trường Chinh 3 lần được bầu giữ cương vị này. Điều thú vị là ba lần đó, Đảng ta mang những cái tên khác nhau
Đồng chí Trường Chinh, tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 09/02/1907, mất ngày 30/9/1988, là một nhà cách mạng, nhà chính trị và lý luận chính trị xuất sắc, có nhiều đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam.
Trong lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng chí đã 3 lần giữ cương vị Tổng Bí thư và điều thú vị là, ba lần giữ chức vụ Tổng Bí thư của đồng chí Trường Chinh đều diễn ra vào những thời điểm then chốt và mang tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương
Tháng 11/1940, trong khi Xứ ủy Nam Kỳ đang khẩn trương chuẩn bị khởi nghĩa trong toàn xứ thì cũng chính thời điểm này từ ngày 6 đến ngày 9/11/1940, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương được tổ chức ở Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Hội nghị tổ chức Ban Chấp hành Trung ương lâm thời gồm các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Phan Đăng Lưu, Hạ Bá cang. Đồng chí Trường Chinh được phân công làm Quyền Tổng Bí thư thay đồng chí Nguyễn Văn Cừ bị địch bắt.
Trong giai đoạn này, mặc dù gặp nhiều khó khăn do sự đàn áp của thực dân Pháp, đồng chí Trường Chinh đã nỗ lực chắp nối liên lạc, khôi phục các tổ chức đảng và quần chúng đã bị tan vỡ.
Đồng chí cũng cử cán bộ sang Trung Quốc để liên hệ và đón lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước, điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng trong việc phục hồi và củng cố phong trào cách mạng, trực tiếp chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.
Sau khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước và triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 5/1941, Hội nghị đánh dấu bước “thay đổi chiến lược” trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng, phù hợp với tình hình quốc tế và trong nước lúc bấy giờ.

Đồng chí Trường Chinh tại Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng, tháng 2/1951 (Ảnh tư liệu)
Đồng chí là người tham gia soạn thảo Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 5/1941, một nghị quyết mang ý nghĩa lịch sử, đã khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”[1].
Tại Hội nghị Trung ương tháng 5/1941, đồng chí Trường Chinh được bầu chính thức làm Tổng Bí thư của Đảng.
Dựa trên tinh thần Nghị quyết Trung ương tháng 05/1941, đồng chí Trường Chinh đã chỉ rõ trong tài liệu “Chính sách mới của Đảng” (tháng 9/1941) rằng: “Cuộc cách mạng Đông Dương hiện thời là cách mạng giải phóng dân tộc”; “lúc này, nhiệm vụ phản đế nặng nề và cấp bách hơn nhiệm vụ ruộng đất”. Điều này cho thấy sự ưu tiên tuyệt đối cho nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đặt quyền lợi dân tộc lên trên hết.
Đồng chí cũng nhấn mạnh rằng bất cứ nhiệm vụ nào chưa cần kíp mà có thể tổn hại đến nhiệm vụ phản đế thì phải gác lại.
Trong giai đoạn này, đồng chí còn chú trọng đến công tác xây dựng Đảng vững mạnh. Với bút danh Thiết Tâm, đồng chí đã viết bài “Củng cố Đảng” (tháng 6/1941, đăng trên báo Cờ Giải phóng, số 2) bàn về vấn đề cán bộ và sinh hoạt chi bộ.
Đồng chí cũng chỉ đạo việc thành lập, chỉ đạo và viết bài cho các cơ quan báo chí của Đảng như báo Giải phóng, Tạp chí Cộng sản, Cứu quốc và Cờ Giải phóng. Thông qua các phương tiện này, đồng chí truyền đạt nhận định về thời cuộc, đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời tổ chức và định hướng phong trào cách mạng.
Trên cương vị Tổng Bí thư từ tháng 5/1941, đồng chí đã góp phần cùng lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Trung ương Đảng xây dựng, hoàn chỉnh đường lối chiến lược giải phóng dân tộc và chuẩn bị cho Cách mạng Tháng Tám.
Với tư duy chiến lược sắc bén, đồng chí đã chỉ đạo việc chuẩn bị khởi nghĩa, thành lập Mặt trận Việt Minh, xây dựng căn cứ địa và lực lượng vũ trang, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước sau ngày Nhật đảo chính Pháp 09/3/1945.
Sự chỉ đạo của đồng chí trong việc ra các chỉ thị quan trọng như “Sửa soạn khởi nghĩa” và “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” đã góp phần quan trọng vào sự chuẩn bị về mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945.
Đồng chí cũng góp phần đặc biệt quan trọng trong việc củng cố sự đoàn kết, thống nhất trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng tại Nam Kỳ, góp phần giải quyết mâu thuẫn Xứ ủy Tiền Phong và Xứ ủy Giải Phóng ngay trước thời điểm cả nước tiến hành tổng khời nghĩa. Trước tình hình mất đoàn kết trong Đảng bộ Nam Kỳ, đồng chí Trường Chinh đã viết bài “Để thống nhất Đảng bộ Nam Kỳ hãy kíp đi vào đường lối” đăng trên báo Cờ Giải phóng, số 15, ngày 17/7/1945. Đồng chí nhấn mạnh “Chúng ta sẽ phạm phải một tội lớn, nếu trước giờ quyết liệt, chúng ta còn chia rẽ mãi”[2].
Tóm lại, trong giai đoạn 1941-1945, đồng chí Trường Chinh đã giữ những vai trò then chốt, từ Quyền Tổng Bí thư đến Tổng Bí thư, dẫn dắt Đảng vượt qua giai đoạn khó khăn, hoàn chỉnh đường lối chiến lược giải phóng dân tộc mấu chốt là đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, xúc tiến chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang. Đây là sự “thay đổi chiến lược” của Đảng, đặt nền móng quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám sau này.
Tổng Bí thư Đảng Lao động Việt Nam
Sau những cố gắng xây dựng nền hòa bình và hữu nghị Viêt-Pháp không thành công, ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra “Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến”. Cả dân tộc bước vào cuộc chiến đấu để gìn giữ những thành quả của Cách mạng tháng Tám.
Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đồng chí Trường Chinh cùng Trung ương Đảng rút lên chiến khu Việt Bắc lãnh đạo cuộc toàn quốc kháng chiến.
Tiếp tục phát triển đường lối kháng chiến được đề ra trong những văn kiện của Chủ tịch Hồ Chí Minh như “Công việc khẩn cấp bây giờ”, tháng 11/1946, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, tháng 12/1946, sang năm 1947, đồng chí viết tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi”, phát triển và làm rõ thêm đường lối kháng chiến của Đảng ta: đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính.
Từ tháng 10 đến tháng 12/1947, đồng chí cùng Trung ương Đảng lãnh đạo quân và dân Việt Bắc tiến hành chiến dịch phản công Việt Bắc Thu Đông, đánh bại cuộc hành quân lớn của thực dân Pháp lên chiến khu Việt Bắc, nhằm thực hiện âm mưu “đánh nhanh, thắng nhanh”, tiêu diệt cơ quan lãnh đạo và Chính phủ kháng chiến.
Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu lần thứ II của Đảng, tháng 02/1951, đồng chí đã cùng Trung ương Đảng thông qua những quyết định đặc biệt quan trọng, trong đó đáng chú ý nhất là tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành những chính Đảng cách mạng ở mỗi nước, ở Việt Nam, Đảng ra công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam.
Tại Đại hội, đồng chí đã trình bày bản báo cáo quan trọng “Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội” (Luận cương cách mạng Việt Nam). Đóng góp của đồng chí trong việc phát triển khái niệm cách mạng tư sản dân quyền thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tại Đại hội II của Đảng.
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí Trường Chinh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.
Đường lối cách mạng được thông qua tại Đại hội II đã góp phần đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc ta đến bến bờ thắng lợi với chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ ngày 07/5/1954.
Tháng 10/1956, đồng chí Trường Chinh, Trưởng Ban cải cách ruộng đất Trung ương nhận trách nhiệm về những sai lầm của Đảng trong cải cách ruộng đất, theo quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, thôi giữ chức Tổng Bí thư. Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Đảng, kiêm Tổng Bí thư đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, tháng 9/1960.

Đồng chí Trường Chinh tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, tháng 12/1986 (Ảnh tư liệu)
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Sau khi đồng chí Lê Duẩn từ trần vào ngày 10/7/1986, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp phiên đặc biệt vào ngày 14/7/1986. Tại phiên họp này, đồng chí Trường Chinh đã được tín nhiệm bầu giữ chức vụ Tổng Bí thư của Đảng, một trọng trách cho đến Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng.
Thời điểm này đất nước đang đối mặt với nhiều khó khăn, khủng hoảng kinh tế - xã hội và Đảng đang chuẩn bị cho Đại hội VI, một đại hội được xem là bước ngoặt quan trọng với công cuộc đổi mới.
Kéo dài cơ chế quản lý kế hoạch hóa tập trung và những sai lầm trong quản lý, điều hành kinh tế của Nhà nước, từ giữa những năm 1980 thế kỷ XX, Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Lạm phát phi mã, giá cả tăng chóng mặt, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là những người làm công ăn lương và người sống bằng lương hưu. Sản xuất đình trệ, nền kinh tế vận hành thiếu năng động, kém hiệu quả, sản xuất đình trệ. Thiếu lương thực và hàng hóa thiết yếu. Nhu cầu về lương thực và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu không được đáp ứng đầy đủ. Năm 1979, Việt Nam phải nhập khẩu 1,8 triệu tấn lương thực nhưng vẫn không đủ. Chi tiêu quốc phòng tăng đột biến, tích lũy trong nước giảm sút, nguồn vay và viện trợ từ bên ngoài ngày càng giảm đi.
Nền kinh tế nhỏ bé, quy mô GDP chỉ khoảng 8 tỷ USD, GDP bình quân đầu người khoảng 200-300 USD, thuộc nhóm nghèo nhất thế giới. Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở không được giải quyết đầy đủ. Người lao động không hăng hái làm việc, nhiều nguồn lực xã hội bị bỏ phí. Tình trạng lãng phí, tiêu cực, cửa quyền diễn ra phổ biến, khiến nhân dân lo lắng và giảm sút lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Việt Nam bị bao vây cấm vận kéo dài. Liên Xô và các nước Đông Âu bắt đầu cải cách, cắt giảm viện trợ.
Những khó khăn này đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có những quyết sách mạnh mẽ để đưa đất nước thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, dẫn đến quyết định thực hiện công cuộc đổi mới bắt đầu từ Đại hội VI tháng 12/1986.
Trong những năm cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng là những năm đất nước ngày càng chìm sâu vào khủng hoảng kinh tế-xã hội, đồng chí Trường Chinh được xem là một trong những người khởi xướng công cuộc đổi mới của Việt Nam.
Trên cương vị Tổng Bí thư lần thứ ba vào năm 1986, trong bối cảnh đất nước đối mặt với nhiều khó khăn, đồng chí đã có những quan điểm đổi mới tư duy quan trọng, đặc biệt là về kinh tế, đề xuất xóa bỏ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp.
Đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo việc chuẩn bị và thảo lại Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VI, góp phần quan trọng vào việc xây dựng đường lối đổi mới của Đảng, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, với những bài học lớn lấy dân làm gốc, xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan... Công cuộc đổi mới từ Đại hội VI đến nay đã gần 40 năm, mang lại cho Việt Nam nhưng thành tựu vô cùng to lớn về mọi mặt.
Có thể khẳng định, những đóng góp lớn nhất của đồng chí Trường Chinh cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam trên cương vị Tổng Bí thư trong những thời đoạn đặc biệt của cách mạng Việt Nam. Đồng chí là nhà lãnh đạo kiệt xuất, có tầm nhìn chiến lược, đặc biệt là trong những bước ngoặt lịch sử quan trọng của cách mạng Việt Nam. Từ việc định hình chính xác đường lối giải phóng dân tộc, chuẩn bị và lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, rồi cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đến thắng lợi, đến việc là một trong những người tiên phong trong công cuộc đổi mới đất nước, đồng chí đã để lại dấu ấn sâu đậm trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
