Mùa xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, mở ra một bước ngoặt trọng đại trong tiến trình cách mạng Việt Nam. Kể từ thời điểm đó, phong trào cách mạng Việt Nam đã có một chính đảng mang bản chất giai cấp công nhân lãnh đạo, với những hệ giá trị tiến bộ và tiên phong để trở thành ngọn cờ tập hợp sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nhìn lại lịch sử, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam phản ánh quy luật khách quan của lịch sử dân tộc trong những năm đầu thế kỷ XX và mang những đặc điểm nổi bật, thể hiện sâu sắc bản chất và tính tiền phong của Đảng.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, với nhãn quan chính trị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Đảng cộng sản là sự kết hợp của chủ nghĩa xã hội khoa học và phong trào công nhân. Quy luật chung đó của phong trào cộng sản quốc tế vận dụng vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước Việt Nam có nhiều nét đặc biệt với sự sáng tạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh. Bởi thời điểm đó, giai cấp công nhân ở Việt Nam còn rất non trẻ, chỉ chiếm chưa đầy 1% dân số… “Năm 1929, tổng số công nhân có 220.000 người, trong đó công nhân cơ khí có 86.000, công nhân đồn điền có 81.000 và công nhân mỏ có 53.000”[1]. Giai cấp công nhân Việt Nam không phải ra đời trong một nền đại công nghiệp nên có những đặc điểm khác với giai cấp công nhân ở các nước châu Âu. Trong khi đó, phong trào yêu nước của nhân dân ta lại phát triển rộng rãi và luôn bền bỉ, không bao giờ đứt đoạn. Với nhãn quan chính trị sắc bén, Nguyễn Ái Quốc đã có sự sáng tạo độc đáo khi thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trên cơ sở sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Với sự kết hợp này, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam mà còn là Đảng của dân tộc Việt Nam; lực lượng để thực hiện các nhiệm vụ cách mạng dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng không bị bó hẹp trong giai cấp công nhân mà còn là tất cả các giai tầng, thành phần khác của dân tộc Việt Nam. Sau này, đồng chí Lê Duẩn cũng đã đánh giá: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt Nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin”[2]. Có thể khẳng định, sự kết hợp đó chính là một trong những nguồn gốc sâu xa tạo ra sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam, làm nên những chiến công kỳ diệu và hiển hách của nhân dân ta trong cuộc Cách mạng tháng Tám, kháng chiến chống Pháp, kháng chiến chống Mỹ, cứu nước cũng như công cuộc đổi mới đất nước, tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Thứ hai, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện cách mạng Việt Nam đã sớm xác định đường lối và phương pháp đúng đắn để giải quyết những đòi hỏi bức bách của lịch sử dân tộc

Khi chuẩn bị thành lập Đảng cộng sản, Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản Việt Nam đầu tiên đã sớm biết vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể đất nước. Từ Bản án chế độ thực dân Pháp đến tác phẩm Đường Cách mệnh, từ Tuyên ngôn Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1929, Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt năm 1930, Luận cương chính trị tháng 10 – 1930, những vấn đề chiến lược của cách mạng như vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, liên minh giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân, đoàn kết quốc tế, xây dựng Đảng của giai cấp công nhân, phương pháp đấu tranh giành chính quyền… đã được xem xét và giải quyết một cách chính xác. “Có được ưu điểm đó, trước hết là do đồng chí Nguyễn Ái Quốc và những người học trò xuất sắc của Người đã một lòng một dạ trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân và lợi ích của dân tộc”[3]; là việc coi trọng tổng kết kinh nghiệm của lịch sử, kết hợp với kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới lúc bấy giờ; là do Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản Việt Nam đã công phu nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể tình hình xã hội Việt Nam, phân tích chính sách đế quốc, cơ cấu giai cấp và mâu thuẫn xã hội để xác định đối tượng cách mạng, tính chất, nhiệm vụ và lực lượng cách mạng. Ngay từ khi ra đời, Đảng đã xác định đúng đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng. Điều này đã tạo nên sự thống nhất, đoàn kết cả trong tư tưởng và hành động của Đảng, để Đảng trở thành ngọn cờ dẫn dắt và lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Thứ ba, sử dụng phương pháp thích hợp đưa chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước, làm tiền đề cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam

Thực tiễn chuẩn bị thành lập Đảng ta chỉ ra rằng, sau khi có phương hướng và mục tiêu đúng, thì nhân tố quan trọng là phải có phương pháp tốt và có công phu chuẩn bị chu đáo. Với tầm nhìn và tư duy mẫn tiệp, công tác chuẩn bị đã được Người thực hiện một cách toàn diện, đầy đủ cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức để góp phần kết hợp cùng các nhân tố khách quan tạo thành điều kiện chín muồi cho việc thành lập Đảng. Bằng nhiều hoạt động, trong giai đoạn 1921-1929, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng, cũng là để thực hiện khát vọng sau bao năm bôn ba. Sau 10 năm chuẩn bị đầy đủ về các mặt tư tưởng, chính trị và tổ chức, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời trong một điều kiện hoàn toàn chín muồi, bước vào cao trào lãnh đạo cách mạng trong cả nước. Đây là sự chuẩn bị công phu, dài hơi, đầy đủ tất cả các phương diện của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và những người cộng sản Việt Nam đầu tiên – trong đó có vai trò lớn lao, quyết định của Nguyễn Ái Quốc với những sáng tạo, chủ động vượt lên trên những hạn chế của lịch sử để đưa đến sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Quá trình vận động thành lập Đảng cho ta thấy: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”[4].

[1] Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Sơ thảo), Tập I (1920 - 1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.32

[2] Lê Duẩn: Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.10

[3] Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Sơ thảo), Tập I (1920 - 1954), Nxb Sự thật, Hà Nội, 1981, tr.103

[4] Hồ Chí Minh: Ba mươi năm hoạt động của Đảng, Tuyển tập, Tập II, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1980, tr.152