Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu bước ngoặt vĩ đại trong tiến trình cách mạng Việt Nam, mở ra tương lai tươi sáng của dân tộc, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta”[1]. 96 năm qua, Đảng đã tổ chức thành công 14 kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc. Mỗi kỳ Đại hội là một mốc son chói lọi, ghi dấu những thắng lợi to lớn của đất nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Đại hội lần thứ I (1935)

Đại hội họp tại một địa điểm ở Phố Quan Công (Ma Cao, Trung Quốc), từ ngày 27 đến ngày 31/3/1935, với sự tham dự của 13 đại biểu, đại diện các Đảng bộ trong nước và tổ chức của Đảng ở nước ngoài. Đại hội đã thông qua Nghị quyết chính trị của Đảng cùng các nghị quyết về vận động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, binh lính; về mặt trận phản đế, đội tự vệ, công tác dân tộc và Điều lệ Đảng.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 13 ủy viên, đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư. Ban Chấp hành Trung ương cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc làm đại diện của Đảng Cộng sản Đông Dương bên cạnh Quốc tế Cộng sản.

Đại hội lần thứ II (1951)

Đại hội họp từ ngày 11/02 đến ngày 19/2/1951 tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang, với 158 đại biểu chính thức và 53 đại biểu dự khuyết, đại diện hơn 766.349 đảng viên trong cả nước.

Đại hội quyết nghị đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên gọi Đảng Lao động Việt Nam; thông qua Chính cương, Tuyên ngôn và Điều lệ mới của Đảng; bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 19 ủy viên chính thức và 10 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Đảng là đồng chí Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư là đồng chí Trường Chinh.

Đại hội lần thứ III (1960)

Đại hội diễn ra tại Hà Nội từ ngày 05 đến ngày 10/9/1960, với 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, đại diện hơn 500.000 đảng viên cả nước. Đại hội xác định nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà; thông qua phương hướng, nhiệm vụ Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất và Điều lệ Đảng sửa đổi.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 47 ủy viên chính thức và 31 ủy viên dự khuyết. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục được bầu làm Chủ tịch Đảng; đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương.

Đại hội lần thứ IV (1976)

Đại hội họp từ ngày 14 đến ngày 20/12/1976 tại Hà Nội, với 1.008 đại biểu đại diện hơn 1,55 triệu đảng viên của 38 đảng bộ tỉnh, thành phố và cơ quan trực thuộc trung ương trong cả nước. Đại hội quyết định đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản Việt Nam; bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 101 ủy viên chính thức và 32 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Lê Duẩn được bầu làm Tổng Bí thư.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng là đại hội toàn thắng của sự nghiệp giải phóng dân tộc; là đại hội tổng kết những bài học lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; là đại hội thống nhất Tổ quốc đưa cả nước tiến lên con đường xã hội chủ nghĩa.

Đại hội VI, tháng 12/1986 mở đầu công cuộc đổi mới đất nước (Ảnh tư liệu)

Đại hội lần thứ V (1982)

Đại hội họp từ ngày 27 đến ngày 31/3/1982 tại Hà Nội, với 1.033 đại biểu đại diện cho hơn 1,7 triệu đảng viên hoạt động trong 35.146 đảng bộ cơ sở. Trong số đại biểu đó có 14 đảng viên đã từng tham gia các tổ chức tiền thân của Đảng.

Đại hội đã khẳng định tiếp tục thực hịên đường lối cách mạng XHCN và đường lối xây dựng nền kinh tế XHCN của Đại hội lần thứ IV, vạch ra chiến lược kinh tế xã hội và những chủ trương, chính sách, biện pháp thích hợp trong từng chặng đường.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm 116 uỷ viên chính thức và 36 uỷ viên dự khuyết. Tổng Bí thư là đồng chí Lê Duẩn.

Đại hội lần thứ VI (1986)

Đại hội họp từ ngày 15 đến ngày 18/12/1986 tại Hà Nội, với 1.129 đại biểu đại diện gần 1,9 triệu đảng viên. Đại hội khẳng định quyết tâm đổi mới toàn diện công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết; đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư. Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ được giao trách nhiệm làm Cố vấn cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Đại hội VI được ghi nhận là Đại hội Đổi mới.

Đại hội lần thứ VII (1991)

Đại hội họp từ ngày 24 đến ngày 27/6/1991 tại Hội trường Ba Đình (Hà Nội), với 1.176 đại biểu đại diện hơn 2 triệu đảng viên.

Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khoá VII gồm 146 uỷ viên, đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Thành công của đại hội đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng, cột mốc mới trong tiến trình cách mạng Việt Nam, là “Đại hội của trí tuệ - đổi mới, dân chủ - kỷ cương - đoàn kết”.

Đại hội lần thứ VIII (1996)

Đại hội họp từ ngày 28/6 đến 01/7/1996 tại Hà Nội, với 1.198 đại biểu thay mặt hơn 2 triệu đảng viên. Đại hội thông qua Điều lệ Đảng sửa đổi; bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 170 ủy viên chính thức.

Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII đã bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên. Đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng là các đồng chí: Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng, Võ Chí Công.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã đánh dấu bước ngoặt chuyển đất nước ta sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội lần thứ IX (2001)

Đại hội họp từ ngày 19/4 đến ngày 22/4/2001 tại Thủ đô Hà Nội, với 1.168 đại biểu đại diện gần 2,5 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa IX gồm 150 ủy viên. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 15 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư. Đại hội IX của Đảng là Đại hội của “trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, đổi mới”, là Đại hội mở đầu cho thế kỷ XXI và thiên niên kỷ mới của dân tộc.

Đại hội lần thứ X (2006)

Đại hội họp từ ngày 18/4 đến ngày 25/4/2006 tại Hà Nội, với 1.176 đại biểu đại diện hơn 3,1 triệu đảng viên cả nước. Đại hội tổng kết 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới (1986–2006), tiếp tục khẳng định đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ đề Đại hội là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa đất nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển.”

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 160 ủy viên chính thức và 21 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nông Đức Mạnh được bầu làm Tổng Bí thư.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ra mắt tại Đại hội, tháng 01/2026

Đại hội lần thứ XI (2011)

Đại hội họp từ ngày 12/01 đến ngày 19/01/2011 tại Hà Nội, với 1.377 đại biểu đại diện hơn 3,6 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội tổng kết 25 năm đổi mới (1986–2011), tiếp tục khẳng định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chủ đề Đại hội XI là: “Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.”

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI gồm 175 ủy viên chính thức, 25 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 14 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được bầu làm Tổng Bí thư.

Đại hội lần thứ XII (2016)

Đại hội tiến hành từ ngày 20 đến ngày 28/01/2016 tại Hà Nội. Tham dự Đại hội có 1.510 đại biểu, đại diện hơn 4,5 triệu đảng viên trên cả nước. Đại hội XII đã tổng kết 30 năm đổi mới (1986–2016); kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XI; quyết định phương hướng, mục tiêu nhiệm kỳ 2016–2021.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương gồm 200 đồng chí, trong đó có 180 ủy viên chính thức và 20 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương bầu Bộ Chính trị gồm 19 ủy viên. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được Đại hội tín nhiệm bầu lại làm Tổng Bí thư.

Đại hội lần thứ XIII (2021)

Đại hội họp từ ngày 25/01 – 01/02/2021 tại Thủ đô Hà Nội, với 1.587 đại biểu đại diện hơn 5 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo phát triển đất nước và việc thực hiện Nghị quyết Đại hội XII (2016–2020); đề ra mục tiêu, nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước giai đoạn 2021–2025 và định hướng phát triển đến năm 2045, phấn đấu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá mới gồm 200 đồng chí, trong đó 180 Ủy viên chính thức, 20 Ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Đồng chí Nguyễn Phú Trọng được tín nhiệm bầu tiếp tục giữ chức vụ Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII.

Ngày 19/7/2024, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từ trần. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII họp ngày 03/8/2024, đồng chí Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được bầu giữ chức Tổng Bí thư.

Đại hội lần thứ XIV (2026)

Đại hội được tiến hành từ ngày 19/01 – 23/01/2026 tại Thủ đô Hà Nội, với sự tham dự của 1.586 đại biểu đại diện 5,6 triệu đảng viên trong cả nước. Đại hội có chủ đề: “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng quyết tâm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV gồm 200 đồng chí, trong đó 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư. Đồng chí Tô Lâm - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII tiếp tục được Ban Chấp hành Trung ương tín nhiệm bầu giữ chức Tổng Bí thư.


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, t.12, tr.406.