Hỏi: Xin cho biết quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phòng, chống tham nhũng từ đại hội VI đến đại hội XIII?
Trả lời
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã coi phòng, chống tham nhũng là công việc quan trọng, cấp bách của công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền nhà nước. Trải qua các giai đoạn lịch sử, đến Đại hội VI (1986), mở đầu công cuộc đổi mới đất nước, cuộc chiến chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí được Đảng ta đẩy mạnh. Văn kiện Đại hội VI nêu rõ: “Hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển. Công bằng xã hội bị vi phạm. Pháp luật kỷ cương không nghiêm. Những hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ, và nhân viên nhà nước... chưa bị trừng trị nghiêm khắc”. Tại Đại hội lần thứ VII, khi xác định phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu giai đoạn 1991-1995, Đảng ta yêu cầu: “Đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng và nạn buôn lậu”(1). Chỉ ba năm sau, trong Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, khi xác định những nhiệm vụ chủ yếu trong thời gian tới, Đảng đã chỉ rõ: “Đấu tranh chống tham nhũng là vấn đề nóng bỏng, bức bách hiện nay, phải được tiến hành một cách kiên quyết, triệt để, trong toàn bộ máy, ở tất cả các cấp, các ngành, từ trung ương đến địa phương và cơ sở” và đưa ra nhiều giải pháp để thực hiện và xem tham nhũng, lãng phí là một trong bốn nguy cơ lớn thách thức sự lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ.
Tại Đại hội lần thứ VIII, Đảng ta tiếp tục nhận định: “Tình trạng tham nhũng, buôn lậu, làm ăn phi pháp chưa ngăn chặn được, có chỗ nghiêm trọng hơn” và chỉ rõ: “Nạn tham nhũng đang là một nguy cơ trực tiếp quan hệ đến sự sống còn của hệ thống chính trị. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã có những biện pháp khắc phục, song hiệu quả còn thấp”(2), từ đó Đại hội chỉ đạo “Tăng cường biện pháp và phối hợp lực lượng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, cửa quyền trong bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức kinh tế nhà nước”.
Phát huy những thành tựu đạt được trong công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng trong các nhiệm kỳ trước, Đại hội lần thứ IX khẳng định việc tiếp tục đẩy mạnh “đấu tranh chống tham nhũng” và chỉ rõ nhiệm vụ, giải pháp để thực hiện như “Tăng cường tổ chức và cơ chế, tiếp tục đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước và toàn bộ hệ thống chính trị, ở các cấp, các ngành, từ trung ương đến cơ sở. Gắn chống tham nhũng với chống lãng phí, quan liêu, buôn lậu, đặc biệt chống các hành vi lợi dụng chức quyền để làm giàu bất chính. Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế chính sách, quy chế, quy định của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế - tài chính, quản lý tài sản công, không để sơ hở cho kẻ xấu lợi dụng... Thường xuyên giáo dục cán bộ, đảng viên, công chức về chính trị, tư tưởng, đạo đức cách mạng... ”(3).
Đến Đại hội lần thứ X, Đảng ta xác định “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí”. Để phòng chống tham nhũng có hiệu quả, Đại hội đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp, trong đó xác định: “Đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí là một nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng Đảng, nhiệm vụ trực tiếp, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Các cấp ủy và tổ chức đảng phải nhận thức sâu sắc tính cấp thiết, lâu dài, phức tạp và khó khăn của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; có quyết tâm chính trị cao, đấu tranh kiên quyết, kiên trì, liên tục, có hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở, trong Đảng, Nhà nước và toàn xã hội...”. Đại hội yêu cầu “Thành lập các ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng trung ương và địa phương đủ mạnh, có thực quyền, hoạt động có hiệu quả”(4). Đặc biệt, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TƯ ngày 21-8-2006 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Đây là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng đề cập một cách toàn diện, tập trung về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Mặc dù công tác phòng, chống tham nhũng đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ngày càng quyết liệt, song Đại hội lần thứ XI vẫn nhận định: “... tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tội phạm, tệ nạn xã hội, suy thoái đạo đức, lối sống... chưa được ngăn chặn, đẩy lùi”; chưa đạt được mục tiêu mà Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã xác định. Do đó, một trong ba nội dung lớn mà Đại hội XI tập trung để đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là “Tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm”(5) với nhiều giải pháp đồng bộ. Với tinh thần quyết liệt đó, Đảng đã chỉ đạo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 04-NQ/TƯ ngày 21-8-2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X); trên cơ sở đó tại Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-5-2012 “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”. Nghị quyết khẳng định: “Phòng, chống tham nhũng, lãng phí là công việc khó khăn, phức tạp, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của Ðảng, Nhà nước và nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Vì vậy, Kết luận số 21-KL/TW xác định cần tập trung vào sáu nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong đó nhấn mạnh, ở Trung ương, thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban...
Thực hiện chủ trương của Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI), ngày 1-2-2013, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 162-QĐ/TW thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng gồm những cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cơ quan hết sức quan trọng của Đảng và Nhà nước. Cùng với đó, Ban Nội chính Trung ương được tái thành lập, là cơ quan tham mưu cho Ban Chấp hành Trung ương mà trực tiếp, thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực nội chính; đồng thời, là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng. Dưới sự theo dõi, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư, công tác phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt, đi vào chiều sâu và toàn diện. Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Kết quả phát hiện và xử lý tham nhũng trong thời gian qua càng chứng tỏ chúng ta đã thực hiện rất nghiêm tư tưởng chỉ đạo, quan điểm: “Nói đi đôi với làm, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai, không chịu sức ép của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào”.
Đại hội lần thứ XII đề cập nhiều lần với những nhận định sâu sát: “Tình trạng tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước”(6). Vì thế, Đảng ta đề ra quyết tâm “Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm trong các cơ quan nhà nước và trong đội ngũ cán bộ, công chức”(7). Từ đó, Đảng ta xác định phòng, chống tham nhũng là một trong 10 phương hướng, nhiệm vụ quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ Đại hội XII; đồng thời là một trong 10 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020.
Với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) nhấn mạnh: “... tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”(8). Do đó, trong công tác phòng, chống tham nhũng, Đảng ta đã có nhiều chỉ đạo quyết liệt, thể hiện quyết tâm cao, cụ thể “Công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, đạt nhiều kết quả rất quan trọng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ. Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn và có chiều hướng giảm”. “Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí chuyển biến mạnh mẽ, có bước đột phá, quyết liệt, có hiệu quả, ngày càng đi vào chiều sâu, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống””(9). Đặc biệt là “Chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng dần được hoàn thiện, trong đó lần đầu tiên đã mở rộng việc phòng, chống tham nhũng sang cả khu vực tư nhân... Việc đánh giá tình hình tham nhũng ở các bộ, ngành, địa phương hằng năm được tiến hành thường xuyên, đặc biệt là đối với cấp tỉnh”(10).
Đại hội XIII cũng chỉ rõ: “Tham nhũng, lãng phí ở một số nơi còn nghiêm trọng”. Nguyên nhân chủ yếu là do “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức suy thoái đạo đức, lối sống và vi phạm đạo đức công vụ”, “công tác xử lý cán bộ sai phạm chưa nghiêm”(11). “Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị, khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ ta”(12).
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ lâu dài, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì và thận trọng, không nóng vội, không chủ quan; phải có kế hoạch cụ thể, có bước đi vững chắc; sử dụng nhiều biện pháp, trong đó lấy giáo dục làm cơ sở, lấy pháp chế làm đảm bảo. Theo đó, để phòng, chống tham nhũng, vừa phải tích cực chủ động phòng ngừa, vừa phải “Thực hiện kiên trì, kiên quyết, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”(13). Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu để “Phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí” được Đại hội XIII xác định là: “Triển khai đồng bộ, có hiệu quả quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng, bảo đảm đúng pháp luật. Thực hiện quyết liệt, nghiêm minh, có hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng. Thực hiện nghiêm quy định của pháp luật về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tiếp tục thực hiện chặt chẽ, hiệu quả về kê khai, kiểm soát kê khai tài sản, thu nhập của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp. Nâng cao vai trò, phát huy tính tích cực, chủ động và phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, tổ chức chính trị - xã hội, nhân dân, doanh nghiệp, báo chí trong phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố cáo hành vi tham nhũng, lãng phí. Nâng cao hiệu quả công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra, làm tốt chức năng hỗ trợ, thúc đẩy phát triển. Không hình sự hoá các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự”(14). Ngoài ra các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương cần phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về phòng, chống tham nhũng gắn với việc tuyên truyền thực hiện Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về phòng, chống tham nhũng, như: Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 7-12-2015 của Bộ Chính trị (khóa XI) “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng”; Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 (Luật số: 36/2018/QH14); Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11-7-2023 của Bộ Chính trị (khóa XIII) “Về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”./.
Chú thích và tài liệu tham khảo:
(1) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, tr.103.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 1996, tr.46,166.
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H.,2001, tr.135,136,137.
(4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2006, tr.128,286,287,289.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2011, tr.55.
(6), (7), (8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H., 2016, tr.185,181,22.
(9), (12), (13) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2021, tr.76,77; 92-93; 288.
(10), (11), (14) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.II, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H., 2021, tr.54; 76,78,80; 145-146.