Cùng với các nghị quyết về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Phát triển kinh tế tư nhân; Đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; Đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về phát triển văn hóa Việt Nam được ban hành trước thềm Đại hội lần thứ XIV, thể hiện quyết tâm lớn của Đảng trong việc tháo gỡ nút thắt và điểm nghẽn về thể chế, nguồn lực, phát huy mạnh mẽ sức mạnh mềm văn hóa, tạo xung lực mới, thúc đẩy quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã xây dựng, ban hành nhiều Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận quan trọng nhằm định hướng quá trình vận động, phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Tiêu biểu như: Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 28/11/1987 của Bộ Chính trị về Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới; Nghị quyết số 04-NQ/HNTW ngày 14/01/1993 của Ban Chấp hành Trung ương khóa VII về một số nhiệm vụ văn hoá, văn nghệ những năm trước mắt; Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 16/7/1998, của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 16/6/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9/6/2014 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Trước khi Nghị quyết số 80-NQ/TW được ban hành, Bộ Chính trị đã ban hành 02 kết luận quan trọng: Kết luận số 76/KL/TW ngày 4/6/2020 và Kết luận số 156-KL/TW ngày 21/5/2025 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XI về xây dựng và phát triển văn hoá, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Điều này cho thấy sự quan tâm của Đảng đối với lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, tinh tế, liên quan trực tiếp đến nền tảng, đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, nguồn lực và trụ cột quan trọng trong quá trình phát triển đất nước.

Nghị quyết số 80-NQ/TW có sự kế thừa những quan điểm mang tính nền tảng của Đảng về xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc, đồng thời có sự bổ sung, phát triển và đưa ra nhiều quan điểm mới nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của văn hóa, con người với quá trình phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Trong 5 quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết số 80-NQ/TW, quan điểm thứ nhất nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của văn hóa, con người. Ở Nghị quyết số 33-NQ/TW, Đảng xác định: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước” đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, Đảng khẳng định: “Văn hoá, con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”; văn hóa không chỉ đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội mà các giá trị văn hoá phải được gắn kết chặt chẽ, hài hoà, thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Điểm nhấn của quan điểm này là lần đầu tiên Đảng khẳng định “văn hóa, con người là nền tảng, trụ cột, hệ điều tiết quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước. Điều này có nghĩa là văn hóa không chỉ là nền tảng tinh thần, mà còn là nền tảng vật chất, là nguồn lực nội sinh, kiến tạo những giá trị mới, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.

Quan điểm thứ hai nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng cũng như mục tiêu phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người. Để xây dựng, hình thành con người xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết của Bộ Chính trị nhấn mạnh đến việc tạo lập môi trường văn hoá nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại; phát triển con người Việt Nam toàn diện dựa trên nền tảng của những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc với không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.

Quan điểm thứ ba nhấn mạnh cơ chế phối hợp và vai trò của các chủ thể trong xây dựng, phát triển nền văn hóa dân tộc. Ở Việt Nam, nhiệm vụ xây dựng, phát triển nền văn hóa được xác định là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân là chủ thể sáng tạo và thụ hưởng, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hoá, doanh nhân đóng vai trò quan trọng, đồng thời đề cao tính tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Điểm mới trong quan điểm này là vai trò của Nhân dân không chỉ là chủ thể sáng tạo, thực hành mà còn là đối tượng được thụ hưởng thành quả và những giá trị mới của nền văn hóa. Bên cạnh đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, Nghị quyết nhấn mạnh đến vai trò của cán bộ văn hóa, tầng lớp doanh nhân, sự tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Sự phối hợp, tham gia của các giai tầng với những ưu điểm, thế mạnh của từng lực lượng cùng tinh thần trách nhiệm, tình yêu, sự tận tâm, tận hiến sẽ góp phần xây dựng thành công nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Quan điểm thứ tư nhấn mạnh chủ trương đầu tư mạnh mẽ về nguồn lực cho phát triển văn hóa. Đây là một quan điểm mới lần đầu được đề cập trong Nghị quyết thể hiện quyết tâm của cả hệ thống chính trị trong việc dành ưu tiên và điều kiện thuận lợi, nhất là nguồn ngân sách đầu tư phát triển văn hóa. Bên cạnh nguồn lực, nguồn vốn của Nhà nước, cần huy động nguồn lực từ khu vực tư nhân với quan điểm “nguồn lực nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, nguồn lực xã hội, khu vực tư nhân là động lực quan trọng”. Cũng trong quan điểm thứ tư, Nghị quyết khẳng định việc hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về văn hóa giữ “vai trò then chốt” để khơi thông và giải phóng nguồn lực văn hóa. Tại quan điểm này, Nghị quyết nhấn mạnh đến 02 chính sách đột phá, đó là “chính sách huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư” và “chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài”, song song với việc thực thi các chính sách đột phá, cần đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hoá.

Quan điểm thứ năm nhấn mạnh đến việc phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hoá, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Phát triển trong bối cảnh mới, văn hóa Việt Nam có nhiều điều kiện, cơ hội thuận lợi để phát triển, nhất là sự ra đời, phát triển của khoa học, công nghệ, chuyển đổi số. Tuy nhiên, bên cạnh thời cơ là không ít thách thức từ những tác động xấu của môi trường số và sự tấn công, xâm lăng của các sản phẩm văn hóa ngoại lai. Để khai thác, phát huy nguồn lực văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam, cần nhận thức và xử lý hài hoà, hiệu quả các mối quan hệ nội tại của văn hoá: Giữa "xây" và "chống"; truyền thống và hiện đại; dân tộc và quốc tế; bảo tồn và phát triển; đại chúng và bác học; đời sống thực và không gian số; dữ liệu mở và bảo đảm an ninh, chủ quyền văn hoá số.

Như vậy so sánh với các nghị quyết của Đảng về văn hóa, nhất là Nghị quyết số 33-NQ/TW, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII đã đưa ra nhiều quan điểm chỉ đạo mới, đặt biệt là cách tiếp cận và tư duy đặt vấn đề phát triển văn hóa, con người Việt Nam được đặt trong mối quan hệ biện chứng với quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới; văn hóa trong mối quan hệ với phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo. Đảng, Nhà nước cần quan tâm đầu tư tương xứng cho phát triển văn hóa, con người để văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường, đối ngoại, an ninh quốc phòng; tạo những đột phá mạnh mẽ về thể chế, chính sách và nguồn lực để văn hóa thực sự trở thành nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột, hệ điều tiết, sức mạnh mềm, thúc đẩy quá trình phát triển nhanh và bền vững đất nước.