Tầm nhìn trong nhận định, đánh giá thời cơ và kiên quyết chớp đúng thời cơ, phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền
Cùng với việc chuẩn bị lực lượng chu đáo, Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng hết sức coi trọng vấn đề thời cơ cách mạng. Khi còn ở Quế Lâm, Trung Quốc (11/1940), nghe tin về cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, Người nói: Tình hình chung trên thế giới ngày càng có lợi cho ta, nhưng thời cơ chưa đến, chưa thể khởi nghĩa được. Song nay khởi nghĩa đã nổ ra rồi, thì cần rút lui cho khéo để duy trì phong trào. Là bậc thầy về tạo lực, lập thế, tranh thời, Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề thời cơ.
Trong bài thơ Học đánh cờ, Người viết: “Phùng thời, nhất tốt khả thành công” (Gặp thời, một tốt có thể thành công)[1]. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng (5/1941) khẳng định: “Cách mạng Đông Dương phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”. Chúng ta phải “luôn luôn chuẩn bị một lực lượng sẵn sàng, nhằm vào cơ hội thuận tiện hơn cả mà đánh lại quân thù”[2].
Vận dụng luận điểm của Lênin về tình thế cách mạng, trong tác phẩm Con đường giải phóng do Hồ Chí Minh chỉ đạo biên soạn, nêu ba điều kiện của thời cơ khởi nghĩa: Một là, chính quyền thực dân đế quốc đã lung lay bối rối đến cao độ, chúng đã cảm thấy không thể ngồi yên nắm giữ địa vị của chúng như trước. Hai là, quần chúng đói khổ đã căm thù thực dân đế quốc đến cực điểm, đã thấy cần phải đồng tâm hiệp lực, nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc thực dân, vì mọi người hiểu rằng nếu ngồi yên cũng chết. Ba là, đã có một chính đảng cách mạng đủ sức tổ chức, lãnh đạo quần chúng nổi dậy khởi nghĩa theo một đường lối đúng đắn, một kế hoạch phù hợp, đảm bảo giành thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa.
Đánh giá chính xác xu thế phát triển của thời cuộc, tháng 10/1944, Hồ Chí Minh gửi thư cho đồng bào toàn quốc, nêu rõ: “Phe xâm lược gần đến ngày bị tiêu diệt. Các đồng minh quốc sắp tranh được sự thắng lợi cuối cùng. Cơ hội cho dân tộc ta giải phóng chỉ ở trong một năm hoặc năm rưỡi nữa. Thời gian rất gấp. Ta phải làm nhanh!”[3]. Khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Chính phủ Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, hàng ngũ chỉ huy của Nhật ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần; thế lực Việt gian thân Nhật hoảng sợ. Những điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi; cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới.
Lực lượng cách mạng chiếm Phủ Khâm sai (Bắc Bộ phủ) ngày 19/8/1945 (Ảnh tư liệu)
Ngày 16/8/1945, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà giải phóng cho ta… Chúng ta không thể chậm trễ"[4].
Với tinh thần kiên quyết chớp thời cơ, Người căn dặn: lúc này thời cơ vô cùng thuận lợi đã đến. Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được tự do và độc lập. Với tầm nhìn xa, trông rộng, Người chỉ rõ: phải giành được chính quyền và đứng ở vị thế người làm chủ nước nhà để đón tiếp quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chí Minh, cả dân tộc Việt Nam nhất tề nổi dậy ở cả thành thị và nông thôn. Nhờ có sự chuẩn bị lực lượng chu đáo, lại nổ ra đúng thời cơ, cách mạng tháng Tám đã giành được thắng lợi “nhanh, gọn, ít đổ máu”. Đó là một điển hình thành công về nghệ thuật tạo thời cơ, dự đoán thời cơ, nhận định chính xác thời cơ, đồng thời kiên quyết chớp thời cơ phát động toàn dân nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền.
Tầm nhìn tronng sáng lập thể chế chính trị cộng hòa dân chủ và khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà
Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay bọn ít người. Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế mới dân chúng được hạnh phúc”[5]. Hồ Chí Minh rất quan tâm xem xét các mô hình nhà nước và thể chế chính trị ở Mĩ, Pháp, Liên Xô. Trong Chánh cương vắn tắt, Người chủ trương “dựng ra chính phủ công nông binh”. Đó là chính quyền nhà nước của quảng đại quần chúng lao động bị áp bức đứng lên giành độc lập tự do.
Mặc dù vậy, đến năm 1941, Người chủ trương thay hình thức chính quyền công nông bằng hình thức cộng hòa dân chủ cho phù hợp với tính chất và lực lượng cách mạng ở thuộc địa: “Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là của chung cả toàn thể dân tộc, chỉ trừ có bọn tay sai của đế quốc Pháp – Nhật và những bọn phản quốc, những bọn thù, không được giữ chính quyền, còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam thảy đều được một phần tham gia giữ chính quyền, phải có một phần nhiệm vụ giữ lấy và bảo vệ chính quyền ấy”[6].
Trong khi tuyên truyền “Không nên nói đánh đổ Nam triều phong kiến và tịch thu ruộng đất của địa chủ mà nói diệt trừ bọn Việt gian phản quốc..., không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hòa”[7]. “Sau khi đánh đuổi được đế quốc Pháp, Nhật, sẽ thành lập chính phủ nhân dân của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà... Chính phủ ấy do quốc dân đại hội cử ra"[8].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, ngày 02/9/1945 (Ảnh tư liệu)
Khi thời cơ giải phóng dân tộc Việt Nam đang đến gần, trong Thư gửi đồng bào toàn quốc (10/1944 ), Hồ Chí Minh nói: trước hết cần có một chính phủ đại biểu cho sự chân thành và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân, gồm tất cả các đảng phái cách mệnh, các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. “Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”[9].
Từ mô hình nhà nước công nông binh chuyển sang mô hình nhà nước đại biểu cho khối đoàn kết dân tộc là một quyết định sáng suốt của Hồ Chí Minh, phản ánh nét đặc thù của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc ở nước Việt Nam thuộc địa với những tàn tích phong kiến nặng nề, phù hợp với sự thay đổi chiến lược và sách lược của cách mạng trong giai đoạn trực tiếp vận động cứu nước. Cách mạng tháng Tám 1945 thành công. Chính quyền của Nhật và tay sai bị đập tan. Tàn dư của chế độ quân chủ chuyên chế do thực dân Pháp duy trì ở Việt Nam được xoá bỏ bằng Tuyên cáo thoái vị của Hoàng đế Bảo đại. “Chính quyền cách mạng được thừa nhận, hợp pháp hóa một cách vẻ vang nhất bởi sự tham gia cuồng nhiệt của toàn thể nhân dân Việt Nam”[10]. Theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh sau khi về Hà Nội (25/8/1945), Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam cải tổ thành Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với 15 thành viên do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
80 năm đã trôi qua, trải qua nhiều biến động lịch sử, song những giá trị và tầm vóc lịch sử của Cách mạng tháng Tám ngày càng được khẳng định và có ý nghĩa sâu sắc đối với công cuộc đổi mới đất nước hiện nay. Cách mạng tháng Tám thành công, khẳng định lý luận và phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc mang đậm những giá trị độc lập tự chủ và sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là di sản vô cùng quý giá, cho Đảng và nhân dân ta tiếp tục thực hiện những chiến lược mới, mục tiêu mới trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc.
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr 324.
[2] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr 131.
[3] Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t. 7, tr 130.
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr 596.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr 292.
[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr 114.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr 127.
[8] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Sđd, t.7, tr 150.
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr. 537.
[10] Bản án chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam, Nxb. Lao Động, Hà Nội, 1977, tr. 102.