Điều chỉnh địa giới hành chính lần thứ ba (1991)
Trong quá trình quản lý Thủ đô rộng lớn, bên cạnh những thuận lợi, Đảng bộ và chính quyền Hà Nội cũng nhận thấy có những khó khăn nên đã kiến nghị lên Bộ Chính trị và Hội đồng Bộ trưởng đề nghị điều chỉnh lại địa giới hành chính thành phố.
Ngày 24/11/1989, trên cơ sở xem xét kiến nghị của Hà Nội, Bộ Chính trị ra Thông báo số 170/TB-TW: địa giới của thành phố Hà Nội hiện không hợp lý, phạm vi ngoại thành quá rộng, với diện tích ngoại thành gấp 49 lần nội thành, dân số ngoại thành gấp 2 lần dân số nội thành, Hà Nội mang nặng tính chất của một thành phố nông nghiệp. Trong tình hình mới, để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý và xây dựng Hà Nội xứng đáng là một Thủ đô, trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học - kĩ thuật của cả nước, Bộ Chính trị nhất trí cần điều chỉnh ranh giới ngoại thành Hà Nội, xác định lại địa giới hành chính của thành phố Hà Nội.
Thực hiện kết luận của Bộ Chính trị, Hội nghị lần thứ 14 của Thành ủy Hà Nội (từ ngày 4 đến ngày 6/12/1989) tập trung thảo luận vấn đề quy hoạch và xây dựng Thủ đô.
Tháng 3/1990, Nhà nước thành lập Ban Chỉ đạo quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội.
Ngày 12/8/1991, Quốc hội khóa VIII, kỳ họp thứ 9 ra nghị quyết điều chỉnh theo hướng thu hẹp địa giới hành chính thành phố Hà Nội: chuyển huyện Mê Linh của thành phố Hà Nội về tỉnh Vĩnh Phúc, chuyển thị xã Sơn Tây và 5 huyện: Hoài Đức, Phúc Thọ, Đan Phượng, Ba Vì và Thạch Thất của thành phố Hà Nội về tỉnh Hà Tây; Hà Nội còn lại 4 quận nội thành là Ba Đình, Đống Đa, Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng và 5 huyện ngoại thành là Đông Anh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Thanh Trì, Từ Liêm. Địa giới Hà Nội sau khi thu hẹp: phía Đông giáp Hà Bắc và Hải Hưng, phía Tây giáp Vĩnh Phú, phía Nam giáp Hà Tây, phía Bắc giáp Vĩnh Phú và Bắc Thái; diện tích Hà Nội thu hẹp còn 921,8 km2, gồm 4 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành; dân số 2.052.000 người[1].
![]()
Hà Nội mở rộng năm 2008
Hà Nội mở rộng sau lần điều chỉnh thứ tư (2008)
Nhằm hướng đến Kỷ niêm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 15/12/2000 xác định phương hướng phát triển của Thủ đô Hà Nội trong 10 năm tới gắn với chuẩn bị kỉ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, thành phố phải phát triển kinh tế, khoa học công nghệ, văn hoá, xã hội toàn diện bền vững; bảo đảm về cơ bản xây dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật của Thủ đô xã hội chủ nghĩa giàu đẹp, văn minh, thanh lịch, hiện đại, đậm đà bản sắc ngàn năm văn hiến, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân; phấn đấu trở thành một trung tâm ngày càng có uy tín trong khu vực; xứng đáng với danh hiệu Thủ đô anh hùng.
Ngay sau đó, Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Thủ đô số 29/2000/PL-UBTVQH xác định vị thế của Thủ đô Hà Nội: “Thủ đô Hà Nội là trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước; là nơi đặt trụ sở của các cơ quan Trung ương của Đảng và Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các cơ quan đại diện ngoại giao, tổ chức quốc tế và là nơi diễn ra các hoạt động đối nội, đối ngoại quan trọng của cả nước”[2].
Thực hiện Nghị quyết số 15 và Pháp lệnh Thủ đô, Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, Ngành chức năng cùng với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội nghiên cứu điều chỉnh và bổ sung quy hoạch chung của Hà Nội, nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh Thủ đô của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các cơ quan tham mưu lập Đồ án quy hoạch xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội; đồng thời ngày 11/6/2003 tại Nghị quyết số 118/2003/QĐ-TTg Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo quy hoạch và đầu tư xây dựng vùng Thủ đô Hà Nội. Nghị quyết này đã tạo cơ sở pháp lý cho quá trình phát triển Thủ đô Hà Nội theo hướng đa chức năng.
Đến năm 2007, vấn đề mở rộng Thủ đô ngày càng bức thiết hơn, các chuyên gia chỉ ra không gian và hệ thống hạ tầng kĩ thuật, hạ tầng xã hội hữu hiệu của Hà Nội không thể đáp ứng được tốc độ đô thị hoá, sức hút đầu tư ngày càng lớn; sự gia tăng dân số làm cho mật độ dân số thường trú và dân số vãng lai ở Hà Nội năm 2007 khoảng 5.000 người/km2 và nếu tính riêng khu vực nội đô là 11.600 người/km2 (mức trung bình trong cả nước là 227 người/km2). Việc mở rộng địa giới hành chính Hà Nội vừa đảm bảo không gian cho Hà Nội phát triển bền vững trong giai đoạn trước mắt, cũng như trong tương lai lâu dài, vừa tạo điều kiện cho Hà Nội phát triển toàn diện, xứng đáng là trung tâm đa chức năng, đáp ứng yêu cầu bức thiết hiện thời.
Bộ Chính trị cũng yêu cầu mở rộng Hà Nội phải đáp ứng được 9 tiêu chí, đó là: Khu vực mở rộng phải phù hợp với các định hướng phát triển vùng Hà Nội; Phải phù hợp dân số thủ đô và các đô thị trong vùng; Các khu vực có khả năng phát triển công trình đầu mối hạ tầng, phát triển các dự án quốc gia gắn với Thủ đô trong đầu tư và hoạt động lâu dài; Phù hợp về các điều kiện địa lý - lịch sử - văn hoá truyền thống; Khu vực mở rộng cần có quỹ đất đủ rộng để xây dựng một số khu chức năng của Thủ đô, các đô thị - khu đô thị mang tính chất vệ tinh để giảm áp lực vào khu vực nội thành truyền thống; Có thể phát triển các vành đai xanh, không gian mở, phát triển các vùng thực phẩm rau quả tươi phục vụ các đô thị trong vùng; Lựa chọn các khu vực đô thị cận kề đã có thời gian gắn kết chặt chẽ về giao thông, hoạt động đô thị và kinh tế thuận lợi đối với việc điều chỉnh lại địa giới hành chính, ổn định nhanh, không gây xáo trộn về cơ cấu hành chính cho nhiều địa phương xung quanh; Phù hợp với thời cơ, vận hội của cả nước.

Một góc Hà Nội hôm nay
Ngày 29/5/2008, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 5 thông qua Nghị quyết số 15 điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội theo phương án: Hợp nhất toàn bộ tỉnh Hà Tây bao gồm toàn bộ diện tích tự nhiên 2.193,41km2 và dân số hiện tại 2.568.000 người vào thành phố Hà Nội; chuyển toàn bộ huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc về thành phố Hà Nội, bao gồm diện tích tự nhiên là 141,64km2 và dân số hiện tại 186.255 người; chuyển toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số hiện tại của 4 xã: Đông Xuân (diện tích 17,2km2, dân số 4.495 người), Tiến Xuân (34,57 km2, dân số 6.606 người), Yên Bình(20,73 km2, dân số 5.875 người), Yên Trung (15,32 km2, dân số 3.278 người) thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình vào thành phố Hà Nội. Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố Hà Nội rộng 3.344,7 km2 gấp 3,6 lần diện tích cũ; với 29 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 10 quận nội thành, 18 huyện và 1 thị xã ngoại thành; dân số là 6.232.940 người chiếm 7,2% cả nước, phía Đông giáp các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và Phú Thọ; phía nam giáp tỉnh Hà Nam và Hòa Bình; phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, Vĩnh Phúc.
Việc điều chỉnh địa giới hành chính thành phố Hà Nội trong những năm 1961-2008 đã gắn liền với sự phát triển về quản lý kinh tế, khai thác được tiềm năng và thế mạnh của từng vùng, từng địa phương, tăng nhanh nhịp độ phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và của Thủ đô Hà Nội nói riêng.
Thực hiện Nghị quyết số 18 - NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, nhằm giảm số lượng đơn vị, tinh gọn bộ máy, và đã bắt đầu thực hiện từ đầu năm 2025, Hà Nội có 526 đơn vị hành chính cấp xã, giảm 53 đơn vị, gồm 160 phường, 345 xã và 21 thị trấn đồng thời hoàn thiện thủ tục hành chính không phụ thuộc địa giới.
Những lần điều chỉnh địa giới hành chính của Thủ đô Hà Nội khẳng định được vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân trong vấn đề điều chỉnh địa giới hành chính Hà Nội nói riêng và các địa phương trên cả nước nói chung; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước; các chủ trương, quyết nghị điều chỉnh địa giới hành chính Thủ đô Hà Nội đều thể hiện vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý tối cao, tập trung thống nhất, trực tiếp của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình và yêu cầu thực tế của đất nước và Thủ đô, xem xét toàn diện những đề xuất, kiến nghị của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội cũng như tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân Hà Nội và các địa phương trực tiếp liên quan; thông qua các lần điều chỉnh, Hà Nội càng có thêm các điều kiện thuận lợi để hoàn thành tốt các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, nhiệm vụ quy hoạch và phát triển đô thị, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng Thủ đô Hà Nội ngày càng văn minh, giàu mạnh, hiện đại - xứng đáng là “trái tim” của cả nước.
