
Hiến pháp năm 1946 là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước Việt Nam mới sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Lần đầu tiên, một bản Hiến pháp dân chủ được ban hành, chính thức xác lập nền tảng pháp lý cho một nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Trong tổng thể những giá trị to lớn đó, nội dung về tổ chức bộ máy nhà nước giữ vai trò đặc biệt quan trọng, thể hiện tư duy lập hiến tiến bộ, linh hoạt và phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước trong buổi đầu giành được độc lập.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, chính quyền cách mạng được thiết lập trên phạm vi cả nước nhưng vẫn còn rất non trẻ, phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức cả về đối nội và đối ngoại. Nền kinh tế kiệt quệ sau nhiều năm chiến tranh, hơn 90% dân số mù chữ, các thế lực phản động trong và ngoài nước tìm mọi cách chống phá, đe dọa nền độc lập vừa giành được. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và ban hành Hiến pháp năm 1946 không chỉ nhằm khẳng định tính chính danh của Nhà nước mới mà còn là cơ sở pháp lý để tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước một cách thống nhất, hiệu lực và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp bách của sự nghiệp giữ nước và dựng nước.
Một trong những nội dung có ý nghĩa nền tảng của Hiến pháp năm 1946 là việc khẳng định dứt khoát nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Điều thứ 1, Hiến pháp xác định: “Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”[1], như vậy, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước. Quyền lực đó được thực hiện thông qua nhiều hình thức mà tiêu biểu là việc bầu ra Nghị viện nhân dân (nay là Quốc hội). Nguyên tắc này thể hiện rõ bản chất dân chủ của Nhà nước Việt Nam mới, đồng thời chi phối toàn bộ cách thức tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1946.
Trên cơ sở nguyên tắc đó, Hiến pháp năm 1946 đã xác lập vị trí trung tâm của Nghị viện nhân dân trong bộ máy nhà nước. Điều thứ 22, Hiến pháp quy định “Nghị viện nhân dân là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà”[2], như vậy, đây là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của toàn thể Nhân dân, do Nhân dân trực tiếp bầu ra. Nghị viện nhân dân có quyền “giải quyết mọi vấn đề chung cho toàn quốc, đặt ra các pháp luật, biểu quyết ngân sách, chuẩn y các hiệp ước mà Chính phủ ký với nước ngoài”[3]. Việc đề cao vai trò của Nghị viện nhân dân thể hiện rõ tư tưởng dân chủ đại diện và nguyên tắc quyền lực nhà nước phải được đặt dưới sự kiểm soát của nhân dân thông qua cơ quan đại diện cao nhất của mình.
Một điểm đặc sắc trong tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 là thiết kế chế định Chủ tịch nước với quyền hạn tương đối rộng. Chủ tịch nước được Nghị viện nhân dân bầu ra, vừa là nguyên thủ quốc gia, vừa là người đứng đầu Chính phủ, giữ vai trò quan trọng trong hoạt động hành pháp. Chủ tịch nước đại diện cho quốc gia về đối nội và đối ngoại, ban bố các đạo luật đã được Nghị viện quyết nghị, ký ban hành các sắc lệnh, bổ nhiệm Thủ tướng và có mối quan hệ chặt chẽ với Chính phủ. Mô hình này bảo đảm sự thống nhất của quyền lực nhà nước, đồng thời tạo ra sự linh hoạt và quyết đoán trong lãnh đạo, điều hành, rất phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước trong những năm đầu giành được độc lập.
Chính phủ theo Hiến pháp năm 1946 là cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước, có trách nhiệm tổ chức thi hành Hiến pháp và các đạo luật, nghị quyết, quản lý các mặt của đời sống xã hội và chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Hiến pháp thể hiện rõ tính chấp hành của Chính phủ đối với Nghị viện, đồng thời nhấn mạnh vai trò điều hành thống nhất của Chính phủ trong hệ thống hành chính nhà nước. Qua đó, thể hiện rõ sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lực nhà nước ở mức độ phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước, bảo đảm vừa phát huy hiệu lực quản lý, vừa giữ vững nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.
Bên cạnh lập pháp và hành pháp, Hiến pháp năm 1946 cũng dành sự quan tâm đáng kể cho tổ chức tư pháp, thể hiện tư duy pháp quyền sớm và tiến bộ. Hiến pháp quy định Tòa án là cơ quan tư pháp, ghi nhận nguyên tắc thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, đề cao công lý và lẽ phải trong hoạt động xét xử, trong khuôn khổ quyền lực nhà nước thống nhất. Những quy định này cho thấy sự coi trọng vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người, quyền công dân và giữ gìn kỷ cương, phép nước, đặt nền móng cho việc xây dựng nền tư pháp dân chủ, công bằng và văn minh ở Việt Nam.
Đối với chính quyền địa phương, Hiến pháp năm 1946 quy định theo hướng tinh gọn, linh hoạt, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng địa phương và hoàn cảnh của đất nước. Chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, do nhân dân địa phương bầu ra, trực tiếp giải quyết các công việc ở địa phương, đồng thời đặt dưới sự quản lý thống nhất của Trung ương. Trong đó, chỉ có cấp tỉnh và cấp xã có đủ 2 thiết chế là Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính, còn cấp bộ và cấp huyện chỉ có Ủy ban hành chính. Cách tổ chức này vừa bảo đảm sự thống nhất quyền lực nhà nước, vừa phát huy tính chủ động, sáng tạo của địa phương, theo hướng tinh gọn, sáng tạo, thể hiện rõ tinh thần gần dân, sát dân và vì dân.
Từ góc độ lý luận, mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 có giá trị đặc biệt quan trọng. Hiến pháp 1946 đã đặt nền móng cho tư duy tổ chức quyền lực nhà nước dân chủ và pháp quyền ở Việt Nam, khẳng định vai trò chủ thể của Nhân dân trong đời sống chính trị - pháp lý. Đồng thời, Hiến pháp năm 1946 thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa nguyên tắc thống nhất quyền lực nhà nước với sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước, phù hợp với điều kiện lịch sử, trình độ phát triển và yêu cầu thực tiễn của đất nước trong giai đoạn đầu lập quốc.
Về phương diện thực tiễn, những giá trị của mô hình tổ chức bộ máy nhà nước theo Hiến pháp năm 1946 vẫn còn nguyên ý nghĩa đối với công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay. Bài học về xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; về đề cao vai trò của cơ quan đại diện nhân dân; về trách nhiệm giải trình của cơ quan hành chính; về bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân vẫn là những vấn đề mang tính thời sự sâu sắc trong bối cảnh đổi mới hệ thống chính trị và cải cách hành chính hiện nay.
Đặc biệt, tinh thần tổ chức chính quyền địa phương theo hướng gần dân, vì dân trong Hiến pháp năm 1946 gợi mở nhiều vấn đề quan trọng cho việc tiếp tục đổi mới mô hình chính quyền địa phương, đẩy mạnh phân quyền, phân cấp gắn với tăng cường kiểm soát quyền lực, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng nền hành chính phục vụ, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
Từ góc độ lịch sử lập hiến, có thể thấy rằng các bản Hiến pháp tiếp theo, đặc biệt là Hiến pháp 2013 được sửa đổi, bổ sung năm 2025 không tách rời, mà tiếp tục phát triển những giá trị cốt lõi được đặt nền móng từ Hiến pháp năm 1946, đặc biệt là tư tưởng về tổ chức quyền lực nhà nước thống nhất, gắn với yêu cầu phục vụ Nhân dân và phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Sự kế thừa và phát triển đó góp phần khẳng định tính ổn định, bền vững của Hiến pháp, đồng thời đáp ứng yêu cầu đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước trong giai đoạn hiện nay.
Sau 80 năm, Hiến pháp năm 1946 vẫn tỏa sáng như một giá trị lập hiến mẫu mực, trong đó mô hình tổ chức bộ máy nhà nước là minh chứng sinh động cho trí tuệ, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Việc tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và phát huy những giá trị đó không chỉ là sự tri ân đối với bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta, mà còn là yêu cầu khách quan của sự nghiệp xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng một nhà nước thực sự của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
[1] Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946), Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946.
[2] Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946), Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946.
[3] Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946), Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946.
