Trong lịch sử văn chương nhân loại, sự sáng tạo nghệ thuật luôn được coi là linh hồn của sáng tác, là phương cách giúp nhà văn khám phá những tầng sâu ẩn giấu của hiện thực, những biến động tinh tế trong tâm hồn con người, khơi dậy những cung bậc cảm xúc mới mẻ và mở ra những chân trời tư tưởng chưa từng được chạm đến. Tuy nhiên, sáng tạo phải gắn liền với trách nhiệm xã hội để thực hiện sứ mệnh nhân đạo hóa con người, hướng tới cái thiện và xây dựng xã hội tiến bộ.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet

Từ sáng tạo nghệ thuật

Trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, mối quan hệ ấy đã bộc lộ rõ, nhưng gay gắt và nhạy cảm nhất chính là ở đề tài chiến tranh. Những ý kiến trái chiều về các tác phẩm đề tài này gần đây cho thấy ranh giới mong manh nhưng cấp thiết giữa sáng tạo nghệ thuật và trách nhiệm xã hội. Đồng thời nó cho thấy rõ một thực tế: công chúng không hề quay lưng với sáng tạo nghệ thuật, họ chỉ đang đòi hỏi ở nhà văn một tầm cao của đạo đức và bản lĩnh để vừa có những tìm tòi sáng tạo, vừa không đi ngược lại với lợi ích quốc gia cũng như hệ giá trị, chuẩn mực văn hóa và lịch sử dân tộc.

Trước hết, cần phải thấy rằng, sáng tạo không chỉ là yêu cầu tự thân mà còn là sinh mệnh của văn chương. Đó là khả năng độc đáo của nhà văn trong việc khai phá, phản ánh hiện thực đa chiều thông qua ngôn ngữ và hình tượng mới mẻ, nhằm khơi gợi những rung cảm thẩm mỹ và truyền đạt những tư tưởng nhân sinh sâu sắc đến với người đọc. Một tác phẩm nghệ thuật đích thực phải là kết quả của quá trình khám phá cái mới, cách tân về hình thức biểu đạt và khơi mở những góc khuất bí ẩn, sâu xa nhất của tâm hồn con người, mang lại những giá trị nhân văn mới mẻ. Sáng tạo giúp văn chương thoát khỏi sự rập khuôn để khẳng định phong cách riêng; bởi nếu thiếu tư duy đổi mới, tác phẩm chỉ còn là 'xác chữ' vô hồn, dẫn đến sự lụi tàn của nghệ thuật. Sáng tạo giúp nhà văn tìm ra ngôn ngữ mới để diễn tả những vấn đề cũ, làm rung động độc giả theo cách riêng. Nhà văn Nam Cao từng tâm niệm: “Văn chương không cần những người thợ khéo tay... nó chỉ công nhận những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Người cầm bút không chỉ là người thợ lành nghề, mà còn là những 'phu chữ' miệt mài sáng tạo để dâng tặng cho đời những giá trị bền vững, khẳng định cá tính độc bản của mình..

Cùng với công cuộc đổi mới của đất nước, Đảng ta cũng đổi mới tư duy trong lãnh đạo văn học nghệ thuật, tạo mọi điều kiện để khai phóng cho tài năng, sáng tạo của người nghệ sĩ. Hòa chung với những thành tựu to lớn của dân tộc, trong thời gian qua, văn nghệ nước nhà đã có nhiều khởi sắc với sự xuất hiện của nhiều phong cách nghệ thuật độc đáo, nhiều trào lưu, khuynh hướng sáng tác mới với những cách tiếp cận, phản ánh hiện thực đa chiều, mới lạ. Có nhiều cây bút đã dũng cảm nhìn nhận, đánh giá, mổ xẻ hiện thực một cách thẳng thắn, sắc sảo, tạo nên những tác phẩm nghệ thuật có sức lay động với công chúng, đặc biệt là trong các đề tài về thế sự, chiến tranh, hậu chiến,...

Đến trách nhiệm xã hội của người cầm bút

Mặc dù nói đến nghệ thuật là nói đến sáng tạo nhưng sáng tạo không tồn tại độc lập mà luôn song hành cùng trách nhiệm xã hội của người cầm bút. Sáng tạo đóng vai trò là phương thức, nhưng trách nhiệm chính là mục đích. Nếu sáng tạo nghệ thuật như cánh diều no gió thăng hoa thì trách nhiệm xã hội là dây neo, là điểm tựa vững chãi nhất để cánh diều không bay vào cõi không trung vô định. Do đó, nghệ thuật đích thực không nên truyền tải nội dung một cách giáo điều, khô khan nhưng cũng không thể là thứ “nghệ thuật vị nghệ thuật” thuần túy hình thức.

Lịch sử văn chương nhân loại cũng như của dân tộc ta đã chứng minh rằng: một tác phẩm chỉ thực sự sống đời sống của nó khi nó dám khước từ những lối mòn cũ kỹ để khai phá những chân trời thẩm mỹ mới, nhưng đồng thời phải mang trên mình sức nặng của nhân sinh, của thời đại. Đặc biệt, nhà văn cần ý thức sâu sắc thiên chức của mình, với những vấn đề hiện thực phức tạp, gai góc, thì càng cần phải hiểu rõ: “Văn hóa, nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”[1] để mỗi trang viết phải là mỗi trang đời, mỗi tác phẩm là một thứ “vũ khí mềm” đấu tranh với cái xấu, cái ác, cái thấp hèn, hướng con người tới cái đẹp, cái thiện, cái cao thượng, bảo vệ phẩm giá nhân loại và thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội.

Văn chương Việt Nam thời kỳ đổi mới đánh dấu sự trở lại một cách sôi động và ấn tượng của đề tài chiến tranh. Bên cạnh những tác phẩm phản ánh chân thực lịch sử, khơi dậy niềm tự hào và sự tri ân các thế hệ cha ông, giúp thế hệ trẻ sống xứng đáng hơn trong hòa bình,... cũng có một số tác phẩm đã mô tả chiến tranh một cách cực đoan, khai thác phiến diện các góc tối cá nhân, đánh đồng chính nghĩa với phi nghĩa và hạ thấp hình tượng bộ đội Cụ Hồ cùng chủ nghĩa anh hùng...

Chiến tranh vốn là đề tài phức tạp, là địa hạt còn nhiều ẩn số đòi hỏi nhà văn phải dấn thân, giải mã. Ngay cả chiến tranh vệ quốc, bên cạnh dòng chủ lưu là chủ nghĩa anh hùng với sự trỗi dậy mạnh mẽ của tinh thần yêu nước, tự hào, tự cường dân tộc, tinh thần quả cảm hy sinh, ... vẫn còn mạch ngầm của tiếng nói đồng cảm với những mất mát, đau thương của những cá nhân, gia đình và cả đất nước. Văn chương - nghệ thuật, với sứ mệnh phản ánh hiện thực, rất cần tiếng nói đa thanh, cái nhìn đa diện, cách tiếp cận đa chiều, nghĩa là cần sự sáng tạo, đổi mới không ngừng của người cầm bút. Nhưng trong lịch sử nhân loại, những cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại luôn đồng hành cùng quá trình dựng nước, giữ nước thiêng liêng của cộng đồng.

Với Việt Nam, các cuộc kháng chiến là thấu kính hội tụ khí phách của một dân tộc bất khuất, anh hùng và luôn coi trọng chính nghĩa. Chính vì thế, không cần thiết phải “tô hồng” nhưng cũng không thể “bôi đen” lịch sử dưới danh nghĩa “sáng tạo nghệ thuật”, “hư cấu nghệ thuật”, càng không thể chấp nhận việc hư cấu phi logic để cuốn độc giả vào những “ma trận” ngôn từ đen tối, bi quan.

Khi bàn về sứ mệnh của văn nghệ sĩ, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan niệm nghệ sĩ không được né tránh sự thật khi phản ánh đời sống, nhưng cũng đòi hỏi sự công tâm, khách quan của người cầm bút: “Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn ta. Đồng thời, phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn”[2].

Với tư cách là “người thư ký trung thành của thời đại”[3], nhà văn có quyền nhìn thẳng vào sự thật và bóc tách, phơi bày ra ánh sáng của nhân gian tất cả sự thật dù nó phũ phàng và ám ảnh đến đâu. Văn chương chiến tranh chỉ thực sự giá trị khi dũng cảm đổi mới góc nhìn để đồng cảm với con người, nhắc nhở về những mất mát và gieo niềm tin vào sự khoan dung, hòa hợp. Nhưng nếu nhân danh sáng tạo để nhằm thỏa mãn những mục đích cá nhân, gieo rắc hận thù, nhân danh tìm tòi cái mới để “lật sử” khiến độc giả, nhất là độc giả trẻ hiểu sai về sự thật lịch sử, nhất là lịch sử đã được viết bằng xương máu của cha anh,... đó là sự vô trách nhiệm, thậm chí là biểu hiện nghiêm trọng của tư tưởng lệch lạc, nhìn nhận sai lệch về lịch sử của dân tộc.

Rõ ràng sáng tạo chính là động lực tự thân thúc đẩy văn nghệ phát triển, mang lại những góc nhìn mới mẻ, sâu sắc về con người và xã hội, làm nên sức hấp dẫn, sức sống mãnh liệt của nghệ thuật. Tuy nhiên, nghệ thuật chỉ thực sự thăng hoa và hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình khi được dẫn dắt bởi ý thức, trách nhiệm xã hội. Sáng tạo không phải là đặc quyền để người cầm bút đứng ngoài nỗi đau nhân thế, ngược lại, đó là thiên chức dùng cái Đẹp để “cứu rỗi nhân thế”[4], phụng sự cuộc đời, nhìn thẳng vào những sự thật tàn khốc của thực tại bằng một trái tim trắc ẩn và tư duy nghệ thuật không ngừng đổi mới, dùng ngọn lửa nhiệt huyết của lương tâm và trách nhiệm để thắp lên ánh sáng niềm tin và lòng nhân ái, giúp con người vượt qua bóng tối bản năng để hướng tới các giá trị vĩnh cửu.

Văn chương Việt Nam đương đại, trước tác động phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, ranh giới giữa sự cách tân táo bạo và những chuẩn mực đạo đức đôi khi trở nên mong manh, việc nhận diện mối quan hệ biện chứng giữa sáng tạo và trách nhiệm xã hội của nhà văn là yêu cầu cấp thiết hơn bao giờ hết. Chỉ khi nhà văn ý thức được thiên chức 'nghệ sĩ - chiến sĩ', văn chương mới trở thành ngọn lửa soi đường cho nhân văn và là sức mạnh nội sinh cho sự phát triển bền vững của xã hội.


[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.246.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, 2011, tr.206.

[3] Chữ dùng của nhà văn Honoré de Balzac, Lời tựa bộ “Tấn trò đời”.

[4] Chữ dùng của đại văn hào Nga F. Dostoyevsky.