Trong cơ cấu của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam có Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam, thành lập ngày 01/01/1962. Tuy nhiên, trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, tổ chức và hoạt động của Đảng này không được thấy rõ, bởi đây là vấn đề sách lược của Đảng trong cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước
Sau khi Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam thành lập ngày 20/12/1960, nhiều tổ chức cách mạng đã thành lập trước đó ở miền Nam và sau này, lần lượt gia nhập hàng ngũ mặt trận.
Đối với Đảng bộ miền Nam, Trung ương Đảng đã thành lập Trung ương Cục miền Nam là bộ phận lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng tại chiến trường miền Nam. Tuy nhiên vấn đề hợp pháp hóa vị trí của Đảng bộ miền Nam đặt ra. Chủ trương của Trung ương Đảng là Đảng bộ miền Nam nên lấy một cái tên riêng là “Đảng Nhân dân Cách mạng” để công khai lãnh đạo cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam.
Tên Đảng- ý nghĩa quan trọng về sách lược
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 27/11/1961, Trung ương Cục ra Chỉ thị số 04 “Về vấn đề đổi tên Đảng cho Đảng bộ miền Nam”.
Trung ương Cục miền Nam nêu rõ: “Việc đặt tên riêng cho Đảng bộ miền Nam có một ý nghĩa rất quan trọng về sách lược”. Điều trước hết cần thấy rõ đây chỉ là sự đổi tên, tuy danh nghĩa công khai có khác với miền Bắc nhưng bí mật trong nội bộ và về phương diện tổ chức thì Đảng bộ miền Nam trước sau vẫn là một bộ phận của Đảng Lao động Việt Nam, chịu sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương. Chỉ thị nhấn mạnh: “Như vậy là ngoài việc đổi tên ra, Đảng bộ miền Nam không có gì khác trước cả”.
Trả lời câu hỏi “Vì sao phải có tên riêng cho Đảng bộ miền Nam ?”, Trung ương Đảng cũng như Trung ương Cục miền Nam cho rằng: nếu Đảng bộ miền Nam giữ tên cũ công khai là một Đảng bộ của Đảng Lao động Việt Nam, chịu sự lãnh đạo của Trung ương Đảng ở miền Bắc, thì kẻ thù trong và ngoài nước dễ vin vào đó để xuyên tạc và vu cáo miền Bắc can thiệp lật đổ miền Nam, làm cho miền Bắc gặp khó khăn trong cuộc vận động đấu tranh cho miền Nam trên phương diện pháp lý quốc tế.
Việc có tên riêng còn tạo điều kiện cho Đảng bộ miền Nam công khai hiệu triệu nhân dân miền Nam dùng mọi hình thức đấu tranh, kể cả đấu tranh vũ trang đánh đổ kẻ thù.
![]()
Ông Võ Chí Công, đại diện Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam trong Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
Dự thảo Cương lĩnh Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam
Trong tháng 12/1961, Trung ương Cục khẩn trương soạn thảo Cương lĩnh hoạt động của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam.
Dự thảo Cương lĩnh nêu rõ: trước tình hình đất nước bị chia cắt, để làm tròn nhiệm vụ lãnh đạo cách mạng Việt Nam ở miền Nam trong, Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam ra đời.
Dự thảo cương lĩnh chỉ rõ: Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam ở miền Nam, là đội tiền phong có tổ chức và là tổ chức cao nhất của giai cấp công nhân.
Đảng gồm những người giác ngộ, tiên tiến, gương mẫu, dũng cảm, hy sinh nhất trong giai cấp công nhân, trong nông dân lao động, trí thức cách mạng và các tầng lớp nhân dân lao động khác, tự nguyện đứng trong hàng ngũ Đảng mà phấn đấu.
Mục đích của Đảng là thực hiện cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Việt Nam, hoà bình thống nhất nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội - bước đầu của chủ nghĩa cộng sản.
Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Đảng coi việc học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là điểm mấu chốt trong công tác xây dựng Đảng.
Nhiệm vụ trước mắt của Đảng là lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân dân miền Nam Việt Nam đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, hiện tại là Mỹ và tập đoàn Ngô Đình Diệm, giải phóng miền Nam, thành lập ở miền Nam Việt Nam chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ, thực hiện độc lập dân tộc, tự do dân chủ, cải thiện đời sống nhân dân, làm cho người cày có ruộng, góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.
Dự thảo Cương lĩnh xác định: Đảng phải ra sức đoàn kết các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo, các đảng phái yêu nước và tất cả những người có khuynh hướng chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất ở miền Nam Việt Nam trên cơ sở liên minh công, nông, binh, do giai cấp công nhân lãnh đạo.
Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam ra tuyên bố nhân dịp thành lập
Ngày 01/01/1962, Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam công khai tuyên bố Cương lĩnh hoạt động của mình gồm những nội dung chính như sau:
- Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam là Đảng của nhân dân lao động miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là Đảng của toàn thể nhân dân yêu nước miền Nam Việt Nam.
- Nhiệm vụ trước mắt của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam là đoàn kết, lãnh đạo giai cấp công nhân, nông dân, nhân dân lao động và toàn thể đồng bào miền Nam đấu tranh đánh đổ ách thống trị của đế quốc và phong kiến, giải phóng miền Nam, thành lập chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ rộng rãi, làm cho người cày có ruộng, phát triển công thương nghiệp, mở mang văn hoá, làm cho mọi người được cơm no áo ấm, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà, góp phần bảo vệ hoà bình thế giới.
Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam nhiệt liệt hưởng ứng Tuyên ngôn và Chương trình hành động của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và tự nguyện đứng vào hàng ngũ của Mặt trận, tích cực tham gia các hoạt động của Mặt trận, đoàn kết và hợp tác chặt chẽ với các đảng phái dân chủ, các tôn giáo và các đoàn thể yêu nước trong Mặt trận, để đấu tranh thực hiện chương trình của Mặt trận.
Để thực hiện đoàn kết dân tộc, Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam chủ trương tôn trọng quyền lợi chính đáng của các giai cấp, các đảng phái và các tầng lớp nhân dân yêu nước, giúp đỡ mọi mặt cho các dân tộc thiểu số trên tinh thần bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ.
- Về đối ngoại, Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam chủ trương đoàn kết hữu nghị với các dân tộc và các nước, nhất là các nước láng giềng tích cực ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc, tích cực đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và các nước gây chiến, bảo vệ hoà bình thế giới.
- Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam kế tục sự nghiệp lịch sử vẻ vang của các Đảng cách mạng tiền bối, quyết vượt qua mọi khó khăn, phấn đấu đến cùng để đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho đồng bào miền Nam Việt Nam.
Sau khi thành lập, Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam tuyên bố đừng trong hàng ngũ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Ông Võ Chí Công, đại diện Đảng, được bầu vào Ủy ban Trung ương Mặt trận.

Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra mắt tại Đại hội lần thứ Nhất, tháng 02/1962 (Ảnh tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)
Hoạt động có ý nghĩa tuyên truyền
Trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta thấy không nhiều hoạt động của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam, bởi ngay từ đầu, Trung ương Đảng đã xác định việc thành lập Đảng chủ yếu mang ý nghĩa sách lược, còn hoạt động thực chất của Đảng chính là hoạt động của Đảng bộ miền Nam dưới sự lãnh đạo của Trung ương Cục miền Nam.
Một trong số ít hoạt động của Đảng sau ngày tuyên bố thành lập là ngày 01/4/1962, Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam ra tuyên bố lên án đế quốc Mỹ tăng cường chiến tranh xâm lược miền Nam và lập Bộ Chỉ huy quân sự Mỹ ở Sài Gòn
Ngày 08/02/1962, Mỹ thành lập “Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự Mỹ”, thực chất là cơ quan chỉ huy quân sự cấp cao ở miền Nam, đồng thời không không ngừng tăng cường đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam. Trước tình hình đó, Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam Việt Nam ra tuyên bố, lên án trước dư luận trong nước và thế giới những hành động xâm lược và gây chiến của đế quốc Mỹ.
Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam hoàn toàn tán thành và kiên quyết phấn đấu để thực hiện ký được bản tuyên bố của Uỷ ban Trung ương lâm thời Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam gồm 10 điểm ra ngày 17/01/1962 và bản tuyên bố của Uỷ ban Trung ương Mặt trận về việc đế quốc Mỹ thành lập Bộ Chỉ huy viện trợ quân sự ở Sài Gòn, ra ngày 15/3/1962.
Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam hoan nghênh lời tuyên bố của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra ngày 18-2-1962 và tỏ lòng tin tưởng ở tinh thần đoàn kết đấu tranh của nhân dân miền Bắc.
Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam hoan nghênh lời tuyên bố của Bộ Ngoại giao Chính phủ Cộng hoà nhân dân Trung Hoa ra ngày 24/2/1962 và các bản tuyên bố của Bộ Ngoại giao Chính phủ Liên Xô ra ngày 17/3 và ngày 28/3/1962 phản đối Mỹ tăng cường sự hiện diện tại miền Nam Việt Nam.
Đảng Nhân dân cách mạng miền Nam hoan nghênh nhiệt tình ủng hộ của Hội đồng hoà bình thế giới, Hội đồng đoàn kết Á-Phi, các tổ chức dân chủ quốc tế, các chính phủ, các quốc gia, các dân tộc, các đảng cộng sản trên thế giới đối với cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam.
Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam kêu gọi các tầng lớp nhân dân, các đảng phái, các giai cấp, các tôn giáo, các dân tộc, không phân biệt xu hướng chính trị khác nhau, kể cả những người trước đây theo Mỹ, ủng hộ chính quyền Ngô Đình Diệm chống lại nhân dân, nhưng hiện nay không muốn chiến tranh, không muốn miền Nam bị nô dịch, kêu gọi tất cả anh em binh lính, sĩ quan, nhân viên trong chính quyền và quân đội miền Nam hãy đoàn kết, đấu tranh đòi Mỹ chấm dứt ngay cuộc chiến tranh xâm lược, giải tán “Bộ Chỉ huy viện trợ” quân sự Mỹ, rút hết cố vấn, binh sĩ và vũ khí Mỹ và nước ngoài ra khỏi miền Nam Việt Nam, thực hiện miền Nam Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ và trung lập như Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đã tuyên bố.
Kể từ năm 1965 trở đi, khi Hoa kỳ trực tiếp đưa quân xâm lược miền Nam Việt Nam, tính chất chính nghĩa cuộc chiến tranh chống xâm lược của nhân dân Việt Nam ngày càng đậm nét, đồng thời sau này, các cơ cấu cách mạng như Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra đời, có lẽ vì thế hoạt động của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam Việt Nam với ý nghĩa nâng cao tính hợp pháp cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam không còn đặt ra cấp thiết nữa, và đó là lý do chúng ta ít thấy nhắc đến hoạt động của Đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam từ đó về sau.
