Hoà hợp, hòa giải dân tộc để phát huy cao nhất sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là vấn đề chiến lược trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Việt Nam, ngay từ khi đất nước còn chiến tranh, chia cắt đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước 30/4/1975 và đặc biệt trong công cuộc đổi mới, bước vào kỷ nguyên phát triển mới hiện nay

Từ nhiều góc độ tiếp cận, luận giải khác nhau cho ta hiểu một cách khái quát nhất về hoà hợp, hòa giải dân tộc, đó là một hoạt động lãnh đạo quan trọng của Đảng, Nhà nước Việt Nam từ năm 1975 đến nay nhằm hoà giải, hoà hợp giữa nội bộ những người Việt Nam với nhau thuộc các đối tượng cơ bản như: giữa người Việt Nam sinh sống trên đất nước Việt Nam; giữa người Việt Nam sinh sống tại Việt Nam với người Việt Nam sinh sống ở ngoài nước; giữa người Việt Nam cùng sinh sống ở nước ngoài… nhưng có sự khác biệt nhau về lập trường, quan điểm chính trị, văn hoá, tôn giáo… theo đó sẽ có những nội dung hoà hợp khác nhau. Hoà hợp dân tộc lấy lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết, hướng đến mục tiêu xây dựng nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; lấy cội nguồn quê hương đất Việt, dòng máu, truyền thống con cháu Lạc Hồng làm điểm tương đồng, tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc.

Hoà hợp, hòa giải dân tộc - một nội dung được quy định trong Hiệp định Paris (01/1973)

Trước Hiệp định Paris, trong các văn kiện liên quan đến vấn đề lập lại hoà bình ở Việt Nam, Đông Dương được xác nhận tại Hội nghị Giơnevơ (7/1954) ở những mức độ khác nhau đã đề cập tới hoà hợp dân tộc.

Đó là các nội dung số 7, số 9 trong Tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ ngày 21/7/1954 Về vấn đề lập lại hoà bình ở Đông Dương…[1]; trong mục c, điều 14, chương II của Hiệp định đình chỉ chiến sự ở Việt Nam[2]. Những điều khoản đó trên một bình diện rộng hơn, cũng là quy định cần được thực hiện đối với cả nước Pháp - lực lượng đã tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Đối với Hiệp định Paris, chương 4 về Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam, gồm có 6 điều, thì có 3 điều xác nhận về các nội dung liên quan đến hoà giải, hoà hợp dân tộc. Đó là: Điều 11 ghi: Ngay sau khi ngừng bắn hai bên miền Nam Việt Nam sẽ: Thực hiện hoà giải và hoà hợp dân tộc, xoá bỏ thù hằn, cấm mọi hành động trả thù và phân biệt đối xử với những cá nhân hoặc tổ chức đã hợp tác với bên này hoặc bên kia. Điều 12 ghi: Ngay sau khi ngừng bắn, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính nhau để thành lâp Hội đồng quốc gia hoà giải và hoà hợp dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ làm việc theo nguyên tắc nhất trí… Điều 13 ghi: Vấn đề lực lượng vũ trang Việt Nam ở miền Nam Việt Nam sẽ do hai bên miền Nam Việt Nam giải quyết trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình hình sau chiến tranh…[3]

Chương trình Xuân Quê Hương, cầu nối giữa người Việt Nam trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài mỗi khi Tết đến Xuân về

Như vậy, hoà hợp dân tộc là một vấn đề, một hệ quả cần phải giải quyết của đất nước sau chiến tranh. Ngoài ra, ở một bình diện rộng hơn, hoà hợp dân tộc còn là sự quan tâm của quốc tế, và cũng là một yếu tố đánh giá, định danh hiệu quả quá trình tái thiết, xây dựng, phát triển đất nước và vị thế của một quốc gia sau chiến tranh.

Hòa hợp, hòa giải dân tộc từ yêu cầu thực tiễn của đất nước

Một là, để đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội. Tuy Việt Nam kháng chiến thắng lợi, nhưng hậu quả chiến tranh thì nặng nề về mọi mặt. Một trong những vấn đề khó khăn nhất cần giải quyết của Việt Nam sau chiến tranh là đảm bảo sự ổn định về chính trị, xã hội mà việc thực hiện hoà hợp dân tộc là một nhân tố chi phối sự ổn định đó. Song, điều đó không giản đơn với một đất nước đã bị chia cắt và triền miên trong khói lửa chiến tranh ngót nửa thế kỷ.

Một thực tế không thể phủ nhận là sự hiện hữu phổ biến những mâu thuẫn, chia rẽ, hiềm khích, nghi kỵ… trong nội bộ người Việt Nam, có khi ngay trong tư tưởng mỗi con người, từng gia đình… Chúng ta không hiếm gặp những gia đình người Việt vừa có người làm cách mạng, là đảng viên của Đảng, vừa có người phục vụ trong chế độ Việt Nam Cộng hoà…; là các thành phần, lực lượng, giai cấp, tầng lớp, đối tượng… khác nhau về nhiều mặt, đặc biệt là ý thức hệ chính trị, chọn phe, chọn đường…, trước, trong kháng chiến của dân tộc và sau giải phóng cùng định cư, sinh sống trên đất nước Việt Nam, hoặc đã sang nước ngoài định cư hay sống lưu vong…

Thực tế đó nếu không được giải quyết kịp thời và hiệu quả sẽ tiềm ẩn những nguy cơ, hiểm hoạ và trở thành nguồn gốc gây ra những bất ổn chính trị, xã hội. Thế nên, hoà hợp dân tộc là điều vô cùng cần thiết, một vấn đề mấu chốt, một nút thắt cần tháo gỡ và việc thực hiện nó như nào sẽ ảnh hưởng tới sự ổn định chính trị, xã hội đất nước.

Hai là, để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nguồn sức mạnh nội lực bền vững xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam sau ngày giải phóng, ngoài một số thuận lợi nhất định thì vốn liếng có được cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước là tình trạng đổ nát, nghèo, lạc hậu, sự chia rẽ, thiếu hoà hợp trong nội bộ người Việt Nam về nhiều khía cạnh…, và cả những khó khăn trong quan hệ quốc tế…

Thế nên, để xây dựng đất nước, thực hiện được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì cần có nguồn lực, đặc biệt là thực lực. Nguồn lực đó muốn có, phải được xây dựng từ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc mà hạt nhân, một trụ cột chính lại bắt nguồn từ thực hiện hoà hợp dân tộc.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Thực tiễn lịch sử dân tộc minh chứng sâu sắc điều đó. Khi nhân dân, nội bộ biết đoàn kết thì sẽ mạnh và không thế lực nào có thể chống phá, chia rẽ được. Đất nước sau ngày giải phóng, và hôm nay, muốn có khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức mạnh nội lực bền vững, phải hoà hợp dân tộc.

Nếu còn sự chia rẽ, sự kỳ thị thiếu đồng thuận, không hoà hợp của mỗi người dân Việt Nam thì không thể có được khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không có nguồn sức mạnh bền vững để xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Việt Nam thịnh hay suy có dấu ấn của hoà hợp dân tộc và sự góp sức của mỗi người dân.

Một đoàn đại biểu kiều bào thăm, động viên cán bộ, chiến sĩ và người dân  đảo Trường Sa

Hòa hợp, hòa giải dân tộc bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và bản chất của chế độ xã hội Việt Nam xây dựng

Một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam là nhân văn, hoà hiếu, vị tha, bao dung… Chỉ việc Pháp, Mỹ từng là kẻ thù xâm lược Việt Nam nhưng hôm nay, quan hệ giữa Việt Nam với nước Mỹ, nước Pháp là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện… đã là ví dụ tiêu biểu cho truyền thống hoà hiếu, nhân ái, nhân văn, mong muốn hoà bình của Việt Nam.

Thế nên, không lý gì giữa người Việt Nam với nhau, cùng chung một cội nguồn, gốc rễ lại chia rẽ, không hoà hợp.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: 5 ngón tay cũng có ngón vắn, ngón dài. Nhưng vắn, dài đều hợp ở nơi bàn tay. Trong mấy triệu người Việt Nam cũng có người thế này người thế khác. Nhưng thế này hay thế khác đều là con Lạc, cháu Hồng. Vì vậy phải lấy tình thương mà cảm hóa họ. Có như vậy mới là đoàn kết. Có đoàn kết thì tương lai ắt sẽ vẻ vang.

Cuộc đời Hồ Chí Minh, những ứng xử của Người với nhân dân Việt Nam, với kẻ thù, với bạn bè… là hiện thân điểm hình cho tinh thần hoà hợp dân tộc. Sau ngày đất nước giải phóng, tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội thống nhất chung của cả nước, thực hiện thống nhất đất nước về mặt Nhà (1976)… khẳng định mong muốn, nguyện vọng của nhân dân, chủ trương của Đảng, Nhà nước về thống nhất non sông, tinh thần đoàn kết và hoà hợp dân tộc.

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam mong muốn xây dựng là một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ; của nhân dân; lấy con người là trung tâm, vừa là động lực, vừa là chủ thể của mọi sự phát triển… Xã hội đó có nền móng và được xây dựng từ nguồn sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tinh thần đó lấy lợi ích quốc gia dân tộc, lòng yêu nước làm điểm tương đồng, chất keo gắn kết.

Có những luận giải khác nhau cho lý do phải hoà hợp dân tộc và trên đây là ba lý do cơ bản. Hoà hợp dân tộc có vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và trong đời sống chính trị xã hội Việt Nam.

Hoà gaiir, hòa hợp dân tộc trong bối cảnh hiện nay, để đi tới thành công, cần đi vào thực chất thực hiện chủ trương, chính sách đúng đắn của Nhà nước, cần sự chung tay của mỗi người dân Việt Nam, sự nỗ lực, vào cuộc của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

 

[1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Điện Biên Phủ Hội nghị Giơnevơ -Văn kiện Đảng, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, , Hà Nội, 2014tr.613

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Điện Biên Phủ Hội nghị Giơnevơ -Văn kiện Đảng, Sđd, tr.620